Trang chủ

Báo cáo chính trị

BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LẦN THỨ IX NHIỆM KỲ 2010 – 2015

_______

Năm năm qua, trong tình hình có những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhất là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động, ảnh hưởng lớn, gây nhiều khó khăn cho đất nước nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng; phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, phấn đấu bền bỉ, năng động, sáng tạo, Đảng bộ, chính quyền thành phố đã đề ra và thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách, giải pháp phù hợp với tình hình thực tiễn để khắc phục khó khăn; cùng với sự nỗ lực cao của cả hệ thống chính trị và nhân dân thành phố đã phấn đấu hoàn thành cơ bản mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

PHẦN THỨ NHẤT

KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ LẦN THỨ VIII

I. VỀ THÀNH TỰU

1. Kinh tế trên địa bàn thành phố đạt tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, các nguồn lực xã hội được phát huy, các ngành, lĩnh vực đều phát triển, góp phần cùng Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

Mặc dù do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố bình quân 5 năm chỉ đạt 11%, thấp hơn chỉ tiêu([1]) đề ra, nhưng là mức tăng cao so với bối cảnh chung. Quy mô kinh tế thành phố đến năm 2010 bằng 1,7 lần năm 2005, GDP bình quân đầu người năm 2010 ước 2.800 USD, bằng 1,68 lần năm 2005. Chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế bước đầu đạt kết quả tích cực, theo hướng tăng dần tỉ trọng các ngành có giá trị gia tăng và hàm lượng khoa học – công nghệ cao([2]). Các ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng 12%/năm, các ngành dịch vụ có lợi thế cạnh tranh, giá trị gia tăng cao tiếp tục phát triển mạnh; giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2006 – 2010 bằng 1,85 lần giai đoạn 2001 – 2005; 4 ngành công nghiệp trọng yếu : cơ khí chế tạo, điện tử – công nghệ thông tin, hóa chất, chế biến tinh lương thực, thực phẩm chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong giá trị sản xuất công nghiệp([3]). Nông nghiệp chuyển dịch tích cực theo hướng nông nghiệp đô thị, năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế tăng lên.([4])

Qua sắp xếp, đổi mới, tuy số lượng và tỉ trọng đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước trong kinh tế thành phố giảm, nhưng quy mô và hiệu quả tăng lên; phát huy được vai trò dẫn dắt thị trường, đặc biệt là trong giai đoạn khó khăn do suy thoái kinh tế toàn cầu. Khu vực kinh tế tập thể phát triển đa dạng các hình thức tổ chức và hoạt động. Kinh tế tư nhân phát triển nhanh, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế, giải quyết việc làm và thu ngân sách. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang chuyển dần sang các ngành thâm dụng vốn và khoa học – công nghệ, đóng góp ngày càng nhiều vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa([5]). Tổng vốn đầu tư xã hội tiếp tục tăng cao([6]), đa dạng hóa các hình thức huy động với việc phát huy vai trò “vốn mồi” của Nhà nước. Thu ngân sách hàng năm đều vượt chỉ tiêu nộp ngân sách do Trung ương giao([7]), đóng góp trên 30% ngân sách quốc gia. Năm loại thị trường (hàng hóa và dịch vụ, tài chính, công nghệ, bất động sản, lao động) phát triển khá nhanh. Kinh tế đối ngoại tiếp tục được mở rộng trên cả 3 lĩnh vực xuất nhập khẩu([8]), thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nguồn vốn viện trợ phát triển (ODA). Môi trường kinh doanh và đầu tư tiếp tục được cải thiện, từng bước tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; mở rộng quan hệ hợp tác phát triển kinh tế – xã hội với các tỉnh, thành phố; vị trí, vai trò của thành phố đối với khu vực và cả nước ngày càng được khẳng định.([9])

2. Quản lý và phát triển đô thị đạt một số kết quả nhất định, góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại

Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, làm cơ sở để xử lý căn cơ kết cấu hạ tầng đô thị về giao thông, cấp nước, thoát nước, cải thiện môi trường; bổ sung chính sách bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp, đất vườn, ao liền kề đất ở trong khu dân cư; chủ động phối hợp với các bộ, ngành Trung ương tiến hành di dời, phát triển hệ thống cảng. Việc phát triển các khu đô thị mới được tiến hành đồng thời với chỉnh trang đô thị hiện hữu. Các chương trình sửa chữa, nâng cấp và xây mới chung cư hết hạn sử dụng, chương trình nhà ở xã hội, chương trình xây dựng một triệu m2 nhà lưu trú của công nhân, chương trình xây dựng ký túc xá sinh viên, gắn với đầu tư phát triển dịch vụ đô thị đã góp phần giải quyết nhu cầu nhà ở của nhân dân, công nhân, sinh viên.

Công tác quản lý, bảo vệ và xử lý ô nhiễm môi trường được chú trọng và có tiến bộ. Gắn nội dung bảo vệ môi trường vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, các chương trình, dự án đầu tư. Triển khai các dự án thoát nước, xử lý chất thải nguy hại; hoàn thành cơ bản việc di dời các cơ sở sản xuất ô nhiễm môi trường vào khu quy hoạch; chủ động phối hợp với các tỉnh liên quan xây dựng và triển khai Đề án bảo vệ lưu vực sông Đồng Nai. Tập trung nguồn lực thực hiện 12 chương trình, công trình trọng điểm và 5 chương trình, công trình mang tính đòn bẩy do Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố đề ra, góp phần phát triển kinh tế – xã hội và cải thiện chất lượng sống cho nhân dân.

3. Giáo dục – đào tạo có chuyển biến tích cực; chương trình xây dựng nguồn nhân lực được đẩy mạnh; hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ góp phần thiết thực hơn vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội; lĩnh vực văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân không ngừng được cải thiện

Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất cho hệ thống giáo dục phổ thông, dạy nghề, giáo dục thường xuyên; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; đẩy mạnh xã hội hóa, phát huy vai trò của hội khuyến học trong phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Quy mô đào tạo các cấp học tăng lên, giáo dục thường xuyên, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề được mở rộng. Chương trình phát triển nguồn nhân lực bước đầu đạt kết quả tích cực. Khoa học – công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn được quan tâm đầu tư và phát huy hiệu quả; việc tiếp thu, ứng dụng, làm chủ công nghệ tiên tiến có tiến bộ; thị trường công nghệ ngày càng được mở rộng, sự liên kết giữa các doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu, các trường đại học và cơ quan quản lý Nhà nước được tăng cường. Việc xây dựng và phát triển các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng và sản xuất sản phẩm công nghệ cao; đổi mới cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng lực lượng khoa học – công nghệ thành phố và người Việt Nam ở nước ngoài bước đầu đạt kết quả tích cực.

Đời sống văn hóa của nhân dân thành phố ngày được nâng lên, những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của con người thành phố được tiếp tục khơi dậy, phát huy, các thiết chế, công trình văn hóa được đầu tư, nâng cấp. Các Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở”, “nếp sống văn minh đô thị”, cùng các hoạt động kỷ niệm các sự kiện chính trị quan trọng, các phong trào thi đua yêu nước đã góp phần giáo dục truyền thống, lý tưởng cách mạng, tạo động lực để nhân dân tích cực thực hiện mục tiêu xây dựng, bảo vệ, phát triển thành phố. Văn học – nghệ thuật có phát triển, góp phần giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chủ nghĩa nhân văn của dân tộc, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Báo chí – xuất bản đóng góp tích cực trong việc thông tin, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước, tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Thể dục – thể thao được chú trọng đầu tư và mở rộng theo hướng xã hội hóa, đáp ứng yêu cầu đào tạo và tổ chức thi đấu; phong trào thể dục – thể thao cộng đồng ngày càng phát triển, góp phần nâng cao thể chất của nhân dân.

Hệ thống y tế được đầu tư phát triển; mạng lưới y tế cơ sở được củng cố, nâng cấp; các loại hình dịch vụ y tế phát triển đa dạng, cơ bản đáp ứng việc khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân; mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế; các dịch bệnh nguy hiểm được khống chế, đẩy lùi. Công tác thanh tra, giám sát an toàn thực phẩm được tăng cường. Các chính sách dân số, gia đình và trẻ em được chú trọng thực hiện đạt kết quả thiết thực. Tốc độ tăng dân số tự nhiên giảm, đạt chỉ tiêu đề ra. Các chương trình an sinh xã hội đạt kết quả tích cực, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Mục tiêu tạo việc làm mới hàng năm vượt chỉ tiêu đề ra. Đã hoàn thành chương trình giảm nghèo theo tiêu chí 6 triệu đồng/người/năm (năm 2008); theo tiêu chí 12 triệu đồng/người/năm, dự kiến đến cuối năm 2010 giảm còn 6,6%. Phong trào đền ơn đáp nghĩa, thực hiện chính sách với người có công và gia đình, xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương tiếp tục được nhân rộng.

4. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, cải cách tư pháp có chuyển biến tích cực; công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế được tăng cường và mở rộng, tạo môi trường thuận lợi để phát triển thành phố

Nhận thức rõ vai trò, vị trí, tầm quan trọng của địa bàn trọng điểm về an ninh quốc phòng, thành phố kịp thời chỉ đạo xây dựng các chương trình, kế hoạch thực hiện có hiệu quả các nghị quyết về quốc phòng – an ninh, gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội với xây dựng quốc phòng – an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Chăm lo xây dựng lực lượng Quân đội, Công an, Biên phòng thành phố trong sạch, vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống; chăm lo xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ, dân phòng, bảo vệ dân phố. Lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng thế trận an ninh nhân dân, chủ động phòng ngừa, triệt phá mọi âm mưu, hành động phá hoại gây mất ổn định chính trị của các thế lực thù địch. Tăng cường chỉ đạo lập lại trật tự an toàn giao thông, giảm tai nạn giao thông, chương trình mục tiêu 3 giảm, kéo giảm tội phạm và tệ nạn xã hội; xử lý kịp thời các vụ tranh chấp lao động tập thể của công nhân, tập trung giải quyết các vụ khiếu kiện tồn đọng; bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn.

Cải cách tư pháp tiếp tục được tập trung thực hiện, tạo chuyển biến tích cực. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được đẩy mạnh. Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử, tranh tụng tại phiên tòa, thi hành án được nâng lên; khắc phục được tình trạng truy tố, xét xử oan, sai, hạn chế được tình trạng bỏ lọt tội phạm, giảm số vụ án và thi hành án dân sự tồn đọng, kéo dài; tạo chuyển biến tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế mang lại hiệu quả tích cực. Quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa thành phố với địa phương các nước được đẩy mạnh. Công tác thông tin đối ngoại được tăng cường, góp phần quảng bá hình ảnh một thành phố năng động, sáng tạo, giàu tiềm năng hợp tác, có môi trường thuận lợi thu hút đầu tư. Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đạt kết quả thiết thực, giúp kiều bào hiểu rõ hơn tình hình đất nước và thành phố, có điều kiện thuận lợi cho việc làm ăn, sinh sống ở thành phố.

5. Công tác xây dựng Đảng được tăng cường; hệ thống chính trị không ngừng được củng cố và hoạt động ngày càng hiệu quả

a. Quán triệt quan điểm xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, toàn Đảng bộ tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, gắn với thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tạo được kết quả bước đầu quan trọng. Việc giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được chú trọng; việc nghiên cứu, quán triệt gắn với xây dựng chương trình hành động thực hiện các nghị quyết của Trung ương được triển khai kịp thời. Công tác thông tin, tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị được tăng cường; gắn việc nắm tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân với giáo dục truyền thống cách mạng, xây dựng đạo đức, lối sống, đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phản bác các quan điểm sai trái, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, đấu tranh với các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Là Đảng bộ được Trung ương chọn làm điểm chỉ đạo Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, qua gần 4 năm thực hiện, Cuộc vận động đã đi vào cuộc sống, tạo được kết quả bước đầu quan trọng trong nhận thức, hành động của toàn Đảng bộ và xã hội. Đã xuất hiện ngày càng nhiều tấm gương cần, kiệm, liêm, chính trong Đảng và xã hội, góp phần ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, xây dựng, nâng cao nền tảng tinh thần trong xã hội.

Việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng có chuyển biến tích cực, vai trò hạt nhân lãnh đạo của tổ chức đảng đối với hệ thống chính trị được phát huy. Việc phân tích chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên hàng năm được cải tiến theo hướng nâng cao chất lượng; kịp thời đề ra biện pháp kéo giảm số cơ sở đảng yếu kém, số đảng viên vi phạm tư cách, nâng tỉ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ hàng năm. Công tác đảng viên được quan tâm chỉ đạo; số lượng đảng viên mới kết nạp hàng năm đều tăng. Công tác cán bộ được chú trọng. Việc quy hoạch cán bộ dài hạn gắn với chủ trương đào tạo, tăng cường cán bộ trẻ tuổi về cơ sở và bổ sung cán bộ trẻ tuổi vào cấp ủy đạt kết quả thiết thực. Diện cán bộ đào tạo, bồi dưỡng được mở rộng, bảo đảm yêu cầu, đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Việc phân cấp quản lý cán bộ được cụ thể hóa bằng quy định, quy chế thống nhất, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tạo chuyển biến tích cực.

Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường. Ủy ban kiểm tra và cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp tiếp tục được củng cố; đã ban hành quy chế phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Thành ủy với các cơ quan liên quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng; xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng hàng năm; chú trọng kiểm tra các lĩnh vực về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng đất đai, sử dụng ngân sách đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản công, quản lý tiền quyên góp khắc phục hậu quả thiên tai, hỗ trợ người nghèo, các hoạt động xã hội – từ thiện; xử lý nghiêm minh khuyết điểm, vi phạm. Công tác giám sát bước đầu đạt một số kết quả thiết thực, góp phần ngăn ngừa vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên.

Phương thức lãnh đạo của Thành ủy và các cấp ủy đối với hệ thống chính trị tiếp tục được đổi mới theo hướng tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đối với những vấn đề trọng yếu, đồng thời phát huy trách nhiệm, tính năng động, sáng tạo của chính quyền, mặt trận và các đoàn thể chính trị – xã hội, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; chú trọng mở rộng, phát huy dân chủ trong Đảng.

b. Năng lực tổ chức thực hiện và hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy chính quyền có chuyển biến tích cực. Hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố, Hội đồng nhân dân thành phố, hội đồng nhân dân xã tiếp tục được đổi mới theo hướng cải tiến, nâng cao chất lượng tiếp xúc cử tri, chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp, tăng cường công tác giám sát theo chuyên đề, được nhân dân đồng thuận, hưởng ứng. Việc kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan chính quyền được quan tâm thực hiện thường xuyên; gắn chỉ đạo thực hiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân quận – huyện, phường với sắp xếp lại các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân; công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị, trình độ chuyên môn, kiến thức luật pháp, kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế cho đội ngũ cán bộ, công chức được tăng cường; công tác thanh tra công vụ, phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí có chuyển biến tích cực; những vụ án nghiêm trọng được phát hiện, xử lý nghiêm minh. Công tác cải cách hành chính tiếp tục được đẩy mạnh; mở rộng phân cấp quản lý, khoán biên chế và kinh phí hành chính cho các đơn vị.

c. Việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa có tiến bộ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường. Tập trung xây dựng, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, bảo đảm vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan quản lý hành chính, cán bộ, đảng viên, công chức. Đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, tiếp công dân, đối thoại với các giới. Mặt trận và các đoàn thể phát huy tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức, đa dạng hóa các hình thức tập hợp; các phong trào hành động cách mạng được tổ chức đều khắp, chất lượng được nâng lên.

Phát huy vai trò công đoàn trong tập hợp, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, học vấn, tay nghề và cải thiện đời sống công nhân, người lao động, từng bước xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ; xây dựng tổ chức cơ sở đảng, tổ chức chính trị – xã hội, phát triển đảng viên, đoàn viên trong doanh nghiệp. Phát huy vai trò của hội nông dân trong việc bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, tay nghề, giới thiệu việc làm, hỗ trợ công nghệ, vốn sản xuất, tiêu thụ nông sản, đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn, thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới, cải thiện bộ mặt nông thôn và đời sống nông dân. Chú trọng tạo điều kiện và môi trường cho đội ngũ trí thức hoạt động; phát huy vai trò tư vấn, giám định, phản biện xã hội của đội ngũ trí thức trong tham gia xây dựng các chương trình kinh tế – xã hội trọng điểm của thành phố. Tạo môi trường để thanh niên học tập, sáng tạo, rèn luyện, cống hiến, trưởng thành; chăm lo xây dựng đoàn, hội liên hiệp thanh niên, hội sinh viên vững mạnh; phát huy vai trò đoàn, hội trong việc chăm lo giáo dục, bồi dưỡng nhận thức chính trị, rèn luyện đạo đức, lối sống lành mạnh và tổ chức phong trào hành động cách mạng của thế hệ trẻ. Thực hiện tốt chính sách bình đẳng giới; phát huy vai trò của hội liên hiệp phụ nữ trong tập hợp, giáo dục, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần phụ nữ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Phát huy vai trò của cựu chiến binhcán bộ hưu trí tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa và chăm lo đời sống của cựu chiến binh, cán bộ hưu trí. Thực hiện tốt chính sách đối với người cao tuổi; phát huy vai trò gia đình, cộng đồng trong việc chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi và vai trò của người cao tuổi trong việc giáo dục con cháu. Phát huy vai trò Hiệp hội doanh nghiệp và các hội ngành nghề trong việc tập hợp doanh nhân tham gia xây dựng, phát triển thành phố. Thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo; chăm lo cải thiện đời sống vật chất và văn hóa cho đồng bào các dân tộc, các tôn giáo. Phát huy vai trò của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài trong tuyên truyền, vận động kiều bào tham gia xây dựng thành phố và đất nước.

II. VỀ HẠN CHẾ, YẾU KÉM

1. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh chưa cao

Các chính sách, giải pháp hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã ban hành chưa đủ mạnh, chưa tạo được sự đột phá. Chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế và cơ cấu lao động còn chậm, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh chưa cao; tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao còn thấp; nền sản xuất còn mang nặng tính gia công, sơ chế dựa vào lao động giản đơn; tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) và ngành công nghiệp chưa đạt chỉ tiêu đề ra([10]); quy mô, tỉ trọng của khu vực kinh tế tập thể còn quá nhỏ; sức cạnh tranh của kinh tế thành phố trong hội nhập kinh tế quốc tế còn yếu; tiềm năng, lợi thế của thành phố chưa được huy động, khai thác đúng mức, kết quả hợp tác phát triển kinh tế – xã hội với các địa phương còn hạn chế.

2. Kết cấu hạ tầng ngày càng quá tải, gây bức xúc cho nhân dân, cản trở mục tiêu tăng trưởng kinh tế và cải thiện dân sinh; quy hoạch và quản lý đô thị chưa theo kịp tốc độ phát triển

Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, quản lý đô thị chưa đáp ứng yêu cầu. Điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố, quy hoạch chi tiết quận – huyện còn chậm. Tiến độ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để giải phóng mặt bằng tại nhiều công trình kéo dài, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và cuộc sống người dân; đầu tư xây dựng kết cầu hạ tầng, nhất là các công trình trọng điểm, các công trình kết cấu hạ tầng nối kết với các địa phương trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam thực hiện chậm, thiếu đồng bộ; sự gia tăng dân số cơ học và phương tiện giao thông cá nhân quá nhanh dẫn đến sự quá tải kết cấu hạ tầng vốn đã yếu kém, gây ra tình trạng ùn tắc giao thông, ngập nước, ô nhiễm môi trường,… ngày càng nghiêm trọng, gây bức xúc xã hội, cản trở tăng trưởng kinh tế, cải thiện dân sinh và bảo vệ môi trường.

3. Chất lượng giáo dục – đào tạo và nguồn nhân lực chưa tương xứng với yêu cầu phát triển và hội nhập; khoa học và công nghệ chưa thật sự là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; một số vấn đề văn hóa – xã hội bức xúc chậm được khắc phục

Xây dựng hệ thống trường lớp theo quy hoạch còn chậm, chất lượng giáo dục – đào tạo chưa tương xứng với yêu cầu phát triển và hội nhập; công tác quản lý Nhà nước đối với các cơ sở đào tạo có yếu tố nước ngoài chưa chặt chẽ; chất lượng, cơ cấu đào tạo nghề chưa theo kịp nhu cầu, việc đào tạo đội ngũ chuyên gia, lao động kỹ thuật cao còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khai thác tiềm lực, phát triển khoa học – công nghệ chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội; thị trường công nghệ quy mô còn quá nhỏ; việc đổi mới thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp còn chậm; đầu tư phát triển khoa học – công nghệ còn dàn trải; kết quả ứng dụng các đề tài nghiên cứu khoa học chưa cao.

Phát triển văn hóa chưa tương xứng với vị trí và tiềm năng của thành phố, chưa thể hiện tốt vai trò nền tảng tinh thần xã hội; việc chấn chỉnh, khắc phục các biểu hiện lệch lạc, nhất là xu hướng thương mại hóa trong hoạt động báo chí, xuất bản, văn học – nghệ thuật, có lúc chưa kịp thời, có lĩnh vực chưa vững chắc; môi trường xã hội bị ô nhiễm bởi sự xâm nhập của các sản phẩm phi văn hóa; biểu hiện xuống cấp về đạo đức, cùng sự tăng lên của lối sống thực dụng, thiếu lành mạnh, hiện tượng bạo lực trong học đường và trong xã hội gây lo ngại trong nhân dân; hiệu quả thực hiện phong trào xây dựng nếp sống văn minh đô thị chưa cao; sự chênh lệch đời sống và mức hưởng thụ văn hóa giữa nhân dân nội thành và ngoại thành còn lớn.

Chủ trương xã hội hóa phát triển lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao thực hiện trong nhiều năm nhưng chưa được tổng kết để bổ sung cơ chế, chính sách phù hợp. Quy hoạch phát triển mạng lưới y tế chưa đồng bộ với quy hoạch chung của thành phố; xây dựng các bệnh viện ở cửa ngõ thành phố, Khu y tế kỹ thuật cao còn chậm, hầu hết các cơ sở y tế bị quá tải, chưa bảo đảm nhu cầu điều trị bệnh của nhân dân; quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm chưa tốt. Công tác đào tạo, quản lý, chính sách đối với đội ngũ huấn luyện viên, vận động viên chưa được chú trọng đúng mức, thể thao thành tích cao ngày càng suy giảm; xây dựng khu liên hợp thể thao Rạch Chiếc còn chậm.

4. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp; cải cách tư pháp còn hạn chế, chưa đồng bộ

Nhận thức nhiệm vụ an ninh – quốc phòng của một số cơ quan, đơn vị và một bộ phận đảng viên, cán bộ, công chức và nhân dân chưa sâu sắc; việc xử lý “khiếu kiện đông người” từ các tỉnh về thành phố còn khó khăn. Trật tự an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp, một số vụ trọng án, sử dụng vũ khí gây án còn xảy ra; việc đấu tranh, xử lý số tội phạm mới còn hạn chế; chỉ đạo thực hiện chương trình mục tiêu 3 giảm chưa căn cơ, triệt để; tai nạn giao thông còn nhiều, nguy cơ cháy còn lớn; phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc chưa thật sâu rộng.

Kết quả cải cách tư pháp chưa đồng bộ ở các lĩnh vực; nhiều vụ án và thi hành án dân sự tồn đọng chưa được xử lý dứt điểm, tỉ lệ án hủy, án trả điều tra bổ sung tuy có giảm nhưng chưa đạt yêu cầu; trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức một bộ phận cán bộ tư pháp chưa đáp ứng kịp nhiệm vụ cải cách tư pháp.

5. Kết quả công tác xây dựng Đảng trên một số mặt còn hạn chế; hệ thống chính trị chưa đáp ứng kịp yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới

Hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa cao, tính chiến đấu, sức thuyết phục còn yếu; việc nắm tình hình, xử lý các vấn đề bức xúc phát sinh còn chậm. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhất là “nỗ lực làm theo” chưa lan tỏa sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân; việc thực hiện ở một số cơ sở còn hình thức, nhận thức chưa sâu sắc; các gương điển hình tiên tiến làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa nhiều trong các cấp, các ngành.

Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức cơ sở đảng còn yếu. Công tác xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chính trị – xã hội trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn chậm. Kết quả xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh chưa đạt chỉ tiêu đề ra([11]); việc đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên của một số đơn vị còn chưa phản ánh đúng thực chất. Chất lượng sinh hoạt chi bộ ở một số cơ sở đảng chưa cao; tự phê bình và phê bình còn yếu. Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, giảm sút ý chí phấn đấu, phai nhạt lý tưởng, mất niềm tin, quan liêu, tham nhũng, suy thoái đạo đức, lối sống,… ảnh hưởng xấu đến uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Công tác quản lý, đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu; chất lượng quy hoạch và đào tạo cán bộ chưa cao.

Kiểm tra, giám sát, nhất là phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa được tập trung đúng mức; tình hình tham nhũng còn diễn biến phức tạp; việc phát hiện những điển hình tốt, cách làm hay để nhân rộng và động viên khen thưởng còn ít; một số cấp ủy chưa lãnh đạo ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện tốt vai trò tham mưu giúp cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo ngăn ngừa sai phạm, đặc biệt ở những ngành dễ phát sinh tiêu cực; chất lượng tự kiểm tra ở một số đơn vị, địa phương còn hạn chế, việc theo dõi, chỉ đạo khắc phục hậu quả sau kiểm tra chưa chặt chẽ; tỉ lệ đảng viên sai phạm tuy có giảm nhưng chưa nhiều, mức độ vi phạm nghiêm trọng còn xảy ra.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đối với hệ thống chính trị còn chậm; hội họp còn nhiều, cải cách thủ tục hành chính trong Đảng chưa mạnh; công tác chuẩn bị, thẩm định các đề án, dự thảo nghị quyết trước khi ban hành còn hạn chế; chức năng, nhiệm vụ một số đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng ủy cấp trên cơ sở không có chính quyền cùng cấp chưa được xác định rõ, hoạt động còn lúng túng.

Hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực còn hạn chế, nhất là quy hoạch, quản lý quy hoạch, quản lý xã hội; quy trình, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, phiền hà. Đội ngũ cán bộ, công chức vừa thiếu, vừa thừa, nhiều cán bộ còn yếu về năng lực, kinh nghiệm thực tiễn. Kết quả phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn hạn chế, xử lý một số vụ án tham nhũng còn chậm; tình trạng cửa quyền, nhũng nhiễu, thái độ thờ ơ trong giải quyết công việc còn tồn tại trong một bộ phận cán bộ, công chức gây bức xúc trong xã hội.

Việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia các phong trào hành động cách mạng chưa sâu rộng, thường xuyên; thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở một số nơi còn hình thức, nhiều vấn đề bức xúc của nhân dân chưa được giải quyết kịp thời; hiệu quả hoạt động của một số đoàn thể chính trị – xã hội còn hạn chế; tình trạng “hành chính hóa”, bệnh hình thức trong hoạt động của một số đoàn thể chậm được khắc phục; chất lượng đoàn viên, hội viên chưa cao. Tổ chức bộ máy cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể chính trị – xã hội các cấp chưa thật tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Nhìn chung, năm năm qua, diễn biến phức tạp trên thế giới và những khó khăn trong nước đã có những tác động bất lợi, song Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã nỗ lực phấn đấu ngăn chặn lạm phát, suy giảm kinh tế, đạt được những thành tựu quan trọng và khá toàn diện. Kinh tế từng bước hồi phục, kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể được củng cố và phát huy vai trò nòng cốt trong nền kinh tế thị trường; kinh tế tư nhân phát triển nhanh; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng nâng tỉ trọng dịch vụ cao cấp, từng bước giảm dần tỉ trọng các ngành công nghiệp thâm dụng lao động, phát triển nông nghiệp đô thị; quản lý và phát triển đô thị đạt một số kết quả; hoạt động đối ngoại và hợp tác kinh tế với các tỉnh được mở rộng; khoa học công nghệ, văn hóa, giáo dục – đào tạo, y tế,… có bước phát triển tích cực; việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chương trình giảm nghèo theo tiêu chí mới góp phần cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên; cải cách hành chính, cải cách tư pháp, phòng chống tham nhũng, lãng phí được đẩy mạnh; hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước có chuyển biến tích cực; vai trò của mặt trận và các đoàn thể chính trị – xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy. Vị trí, vai trò của thành phố đối với Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước ngày càng được khẳng định, tiếp tục có những đóng góp vào quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hình thành những quan điểm, chủ trương, chính sách đổi mới, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả, sức cạnh tranh của kinh tế thành phố còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu đặt ra đối với thành phố. Quy hoạch và quản lý đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, kết cấu hạ tầng ngày càng quá tải, gây bức xúc cho nhân dân, cản trở sự phát triển kinh tế. Chất lượng giáo dục – đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chưa tương xứng với yêu cầu phát triển, hội nhập của thành phố. Khoa học – công nghệ chưa thật sự là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Một số vấn đề về văn hóa, xã hội bức xúc chậm được khắc phục. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp. Kết quả công tác xây dựng Đảng trên một số mặt còn hạn chế. Hệ thống chính trị chưa đáp ứng kịp yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Những thành tựu và những hạn chế, yếu kém trên do một số nguyên nhân

Đạt được những thành tựu trên là do : (1) Đường lối đổi mới toàn diện của Đảng; sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đảng, Quốc hội; sự quản lý, điều hành năng động của Chính phủ trong khắc phục ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; sự phối hợp, hỗ trợ của các bộ, ban, ngành Trung ương và các địa phương đối với thành phố. (2) Truyền thống cách mạng kiên cường, phấn đấu bền bỉ, năng động, sáng tạo của Đảng bộ và nhân dân thành phố; tiềm năng kinh tế và kinh nghiệm quản lý của thành phố trong những năm đổi mới. (3) Sự nỗ lực phấn đấu cao của các cấp ủy, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể chính trị – xã hội, các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân thành phố.

Nguyên nhân hạn chế, yếu kém : Về khách quan, các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật chưa đáp ứng quá trình phát triển, đô thị hóa của đất nước; chưa tạo điều kiện phát huy tiềm năng, lợi thế vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nhất là đối với một đô thị loại đặc biệt, có quy mô dân số khoảng 10 triệu dân trong tương lai gần; những hạn chế trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, các vùng; tình trạng đầu tư dàn trải, trùng lặp trong kinh tế đất nước; cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Về chủ quan, lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy chưa quan tâm đúng mức việc tổng kết sâu sắc thực tiễn, nâng tầm lý luận làm cơ sở đề ra chính sách có tính chiến lược để thực hiện tốt mục tiêu phát triển thành phố; chưa kiên trì kiến nghị với Trung ương bổ sung, điều chỉnh một số cơ chế, chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển thành phố. Công tác quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền còn hạn chế; tổ chức thực hiện và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trên một số lĩnh vực chưa kịp thời; chỉ đạo thực hiện các chương trình mang tính đòn bẩy chưa quyết liệt. Công tác cán bộ chậm đổi mới, một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo trong 5 năm qua, rút ra một số kinh nghiệm.

Thứ nhất : phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, truyền thống cách mạng kiên cường, phấn đấu bền bỉ, năng động, sáng tạo của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố trong thực hiện nhiệm vụ chính trị. Trong lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy và các cấp ủy phải có quyết tâm chính trị cao, luôn tạo điều kiện phát huy sự sáng tạo của nhân dân, của các thành phần kinh tế, kịp thời phát hiện vấn đề mới, thực hiện thí điểm, đề ra những giải pháp đột phá, thường xuyên kiểm tra, sơ kết, tổng kết, bổ sung cơ chế, chính sách phù hợp để hình thành và phát triển những nhân tố mới.

Thứ hai : tăng cường công tác xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, thường xuyên tự chỉnh đốn, đổi mới phương thức lãnh đạo; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường đoàn kết, tạo sự thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động trong toàn Đảng bộ; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng; thường xuyên chăm lo công tác cán bộ, vì “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, là khâu then chốt của vấn đề then chốt; làm tốt công tác cán bộ từ khâu đánh giá, quản lý, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí đúng cán bộ, nhất là người đứng đầu, đồng thời phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát phòng ngừa sai phạm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

Thứ ba : chăm lo thực hiện tốt công tác vận động nhân dân, mọi chính sách phải vì nhân dân, xuất phát từ quyền lợi của nhân dân, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, giảm khoảng cách nghèo, giàu trong các tầng lớp dân cư. Điều đó đòi hỏi các cấp, các ngành, mỗi cán bộ, đảng viên phải bám sát thực tiễn, trọng dân, tin dân, lắng nghe ý kiến của dân và kịp thời giải quyết thỏa đáng các vấn đề bức xúc của nhân dân, xây dựng được thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ tư : nhận thức đúng vai trò, vị trí của thành phố đối với cả nước về yêu cầu bảo đảm giữ vững ổn định chính trị trong mọi tình huống là kinh nghiệm vừa mang tính thời sự, cấp bách, vừa cơ bản lâu dài. Phải quan tâm chăm lo, củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng lực lượng võ trang, lực lượng chính trị nòng cốt ngày càng vững mạnh để giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, đáp ứng mục tiêu phát triển.

Thứ năm : kinh nghiệm thực tiễn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, một mặt phải thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, mặt khác phải luôn nhạy bén, sáng tạo, bám sát thực tiễn, phát hiện và kịp thời giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trong điều kiện có nhiều khó khăn, phức tạp; đồng thời phải quan tâm tổng kết thực tiễn và kịp thời đề xuất Trung ương sửa đổi, bổ sung những cơ chế, chính sách không còn phù hợp hoặc kiến nghị cho thành phố thực hiện thí điểm những cơ chế, chính sách mới, để tổng kết trước khi áp dụng cho cả nước.

PHẦN THỨ HAI

MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ,

XÂY DỰNG ĐẢNG BỘ VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ

Trong những năm sắp tới, trên thế giới, hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu hướng lớn, song còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, bất trắc khó lường. Nước ta có nhiều thời cơ, thuận lợi, nhưng không ít khó khăn, thách thức từ bối cảnh quốc tế và những tồn tại từ bên trong của nền kinh tế đất nước. Quán triệt Nghị quyết số 20-NQ/TW của Bộ Chính trị, phấn đấu xây dựng thành phố Hồ Chí Minh trở thành một thành phố xã hội chủ nghĩa văn minh, hiện đại; từ nay đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, thành phố tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu toàn Đảng bộ; phát huy dân chủ, tăng cường đoàn kết; huy động nguồn lực, nâng cao chất lượng tăng trưởng, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, phát triển nhanh, bền vững, với mục tiêu tổng quát là : Tiếp tục đổi mới toàn diện và mạnh mẽ hơn nữa; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu toàn Đảng bộ; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; năng động, sáng tạo, huy động mọi nguồn lực, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân; bảo đảm quốc phòng – an ninh, giữ vững ổn định chính trị – xã hội; làm tốt vai trò đầu tàu của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; đóng góp ngày càng lớn cho cả nước; từng bước trở thành một trung tâm công nghiệp, dịch vụ, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ của khu vực Đông Nam Á.

CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân hàng năm 12%.

2. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của ngành dịch vụ bình quân 13%/năm.

3. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của ngành công nghiệp bình quân 11%/năm.

4. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp bình quân 5%/năm.

5. Cơ cấu kinh tế năm 2015 (% trong GDP) : dịch vụ : 57%, công nghiệp : 42%, nông nghiệp : 01%.

6. Tổng mức đầu tư xã hội 5 năm trên địa bàn thành phố đạt trên 1,4 triệu tỉ đồng.

7. Tốc độ tăng dân số tự nhiên bình quân hàng năm dưới 1,1%.

8. Hàng năm tạo việc làm mới trên 120.000 người.

9. Đến cuối năm 2015, tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân trên đầu người đạt 4.800 USD.

10. Đến cuối năm 2015, tỉ lệ lao động đã qua đào tạo nghề đạt 70% trên tổng số lao động làm việc.

11. Tỉ lệ hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập 12 triệu đồng/người/năm đến cuối năm 2015 cơ bản hoàn thành (còn dưới 2%).

12. Đến cuối năm 2015, đạt tỉ lệ 15 bác sĩ/10.000 dân.

13. Đến cuối 2015, tỉ lệ hộ dân đô thị được cấp nước sạch đạt 98%; hộ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 100%.

14. Tổng diện tích nhà ở xây dựng mới trong 5 năm đạt 39 triệu m2; diện tích nhà ở bình quân 17 m2/người.

15. Đến cuối năm 2015, thu gom, lưu giữ, xử lý 100% chất thải rắn thông thường ở đô thị, chất thải rắn nguy hại, chất thải rắn y tế, nước thải công nghiệp và y tế; 100% khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam.

16. Đến cuối năm 2015, hoàn thành xây dựng 25 xã nông thôn mới.

17. Hàng năm, có 75% cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh.

18. Đến cuối năm 2015, xây dựng tổ chức công đoàn trong 100% doanh nghiệp có đủ điều kiện; 70% doanh nghiệp ngoài Nhà nước có từ 500 lao động trở lên có tổ chức đảng và tổ chức đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.

I- NHIỆM VỤ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VÀ BẢO VỆ THÀNH PHỐ

1. Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế

a. Khai thác tốt nhất tiềm năng, lợi thế, tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn hàng năm cao hơn 1,5 lần mức tăng trưởng bình quân của cả nước; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Chủ động tái cấu trúc kinh tế thành phố, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ chủ yếu phát triển dựa vào tăng vốn đầu tư, sử dụng nhiều lao động giản đơn sang phát triển dựa trên yếu tố năng suất tổng hợp, tiến bộ khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao, năng suất lao động, sản phẩm có chất lượng cao; từ sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng và hàm lượng khoa học – công nghệ thấp sang sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng và tỉ lệ nội địa hóa cao, hàm lượng khoa học – công nghệ cao.

Trong lĩnh vực dịch vụ, tiếp tục thúc đẩy phát triển 9 nhóm ngành dịch vụ đã được xác định (tài chính – tín dụng – ngân hàng – bảo hiểm; thương mại; vận tải, kho bãi, dịch vụ cảng; bưu chính – viễn thông và công nghệ thông tin – truyền thông; kinh doanh tài sản – bất động sản; dịch vụ thông tin tư vấn, khoa học – công nghệ; du lịch; y tế; giáo dục – đào tạo). Trong đó, tập trung nâng cao tỉ trọng các ngành dịch vụ : thương mại quốc tế; tài chính, tín dụng ngân hàng; dịch vụ cảng – kho bãi – hậu cần, hàng hải và xuất nhập khẩu, vận tải đa phương thức; du lịch; thị trường bất động sản; thị trường công nghệ. Bảo đảm khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng và tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu kinh tế trên địa bàn.

Trong lĩnh vực công nghiệp, tiếp tục tập trung phát triển 4 ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học – công nghệ và giá trị gia tăng cao (cơ khí; điện tử – công nghệ thông tin; hóa dược – cao su; chế biến tinh lương thực thực phẩm) và các ngành công nghệ sinh học, công nghiệp sạch, tiết kiệm năng lượng; đồng thời lựa chọn một số công đoạn có giá trị gia tăng cao trong các ngành công nghiệp khác để đầu tư, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu các sản phẩm công nghiệp : công nghiệp chế biến sản phẩm cao cấp, công nghệ cao từ cao su; công nghiệp thời trang trong ngành dệt may; các công đoạn thiết kế, tiếp thị, phân phối,… trong các ngành công nghiệp khác; phát triển công nghiệp phụ trợ. Đầu tư hiện đại hóa ngành xây dựng; sử dụng vật liệu mới, tiết kiệm năng lượng, ứng dụng công nghệ xây dựng hiện đại; nâng tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng cao hơn tốc độ tăng trưởng của các ngành công nghiệp.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, hiệu quả, bền vững. Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược biển; tăng cường ứng dụng công nghệ sinh học, tập trung sản xuất cây giống, con giống có năng suất và giá trị gia tăng cao, rau củ quả sạch, cây kiểng, hoa kiểng, cá kiểng phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu. Chỉ đạo xây dựng mô hình xây dựng nông thôn mới văn minh, giàu đẹp, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ môi trường.

b. Tạo môi trường thuận lợi và bình đẳng để phát triển các thành phần kinh tế; tiếp tục sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Nhà nước; có cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển, nâng cao chất lượng kinh tế tập thể với nòng cốt là các hợp tác xã; tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển; hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn, thông tin công nghệ và thị trường; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng hơn nữa để thu hút mạnh mọi nguồn lực đầu tư vào những ngành, lĩnh vực kinh tế phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển thành phố. Phát triển đồng bộ 5 loại thị trường chính yếu : tài chính, hàng hóa – dịch vụ, công nghệ, bất động sản, lao động; đổi mới, nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý Nhà nước trong cơ chế kinh tế thị trường; không ngừng đóng góp vào việc hoạch định cơ chế, chính sách chung của cả nước trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát huy vai trò của thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm phíaNam.

c. Huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; bổ sung cơ chế, chính sách ưu tiên thu hút đầu tư vào công nghiệp công nghệ cao, công nghệ sạch; đẩy mạnh chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ưu tiên cho những ngành, lĩnh vực có lợi thế so sánh, tiềm năng phát triển, các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao; hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất – kinh doanh, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ để mở rộng thị trường nội địa và xuất khẩu. Xây dựng các “cụm liên kết sản xuất” để tạo điều kiện phát triển công nghiệp phụ trợ. Đa dạng hóa và mở rộng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cần thiết để giúp các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển mạng lưới phân phối, thương mại điện tử; áp dụng các mô hình phân phối, giao dịch hiện đại vào hoạt động thương mại; bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, góp phần phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng lưu chuyển hàng hóa. Quy hoạch phát triển trung tâm hội chợ triển lãm thương mại có tầm cỡ khu vực; trước mắt, xây dựng Trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế chuyên tổ chức các sự kiện triển lãm, hội chợ, hội nghị thương mại có quy mô lớn.

2. Phát triển đô thị bền vững

Tập trung xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác quy hoạch, thiết kế đô thị, quản lý quy hoạch – kiến trúc, quy hoạch xây dựng nông thôn mới, quản lý đô thị gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Thực hiện đồng bộ đề án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội thành phố đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 đồ án điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố đến năm 2025 gắn với quy hoạch Vùng thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn thành quy hoạch chi tiết và thiết kế đô thị ở khu vực trung tâm, ở các trục giao thông mới và quy hoạch cải tạo, chỉnh trang đô thị các quận còn lại, gắn kết hài hòa với quy hoạch các khu đô thị mới và quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu đô thị mới (Thủ Thiêm, Tây Bắc, Cảng Hiệp Phước) và các chương trình đột phá để giải quyết vấn đề bố trí dân cư và nhà ở cho nhân dân, giảm tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, giảm ngập nước, giảm ô nhiễm môi trường, gắn với mục tiêu kiểm soát quy mô dân số khoảng 10 triệu người. Nâng cao chất lượng các dịch vụ đô thị theo hướng xã hội hóa. Chủ động phối hợp với các bộ – ngành Trung ương và các địa phương liên quan xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, trong đó tập trung hệ thống giao thông công cộng sức chở lớn, đường sắt đô thị, phát triển đường vành đai, đường trên cao, đường cao tốc, luồng tàu đường biển, đường sông; cấp nước, thoát nước, chống ngập, xử lý chất thải và hạ tầng viễn thông… kết nối với kết cấu hạ tầng các tỉnh trong vùng Thành phố Hồ Chí Minh, Vùng đồng bằng sông Cửu Long và Nam Tây Nguyên.

Quy hoạch, xây dựng phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị (giao thông, bến xe, hệ thống cảng, kho bãi, cấp nước, thoát nước, điện, bưu chính – viễn thông, công viên,…) và hệ thống dịch vụ (ngân hàng, trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, mạng lưới phân phối,…) đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất – kinh doanh và cải thiện dân sinh. Ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn; hỗ trợ nhà ở, việc làm và các điều kiện sinh sống cho dân cư các địa bàn đô thị hóa. Tiếp tục phát huy và mở rộng các hình thức xã hội hóa đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng. Khai thác có hiệu quả quỹ đất đô thị để tạo nguồn vốn đầu tư. Tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư ngân sách, nguồn vốn ODA và trái phiếu đô thị. Có chính sách hỗ trợ các thành phần kinh tế đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, chương trình nhà ở xã hội, nhà lưu trú công nhân; công khai, minh bạch quy hoạch sử dụng đất và công bố quỹ đất, kiên quyết thu hồi các mặt bằng sử dụng không hiệu quả để phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển. Tăng cường quản lý, ao, hồ, kênh, rạch phục vụ điều tiết nước và giao thông; bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái, gắn nội dung môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, các chương trình, dự án đầu tư; đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực tham gia bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng và hạn chế tác hại của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

3. Phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, xây dựng văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, bảo đảm an sinh xã hội

a. Xây dựng nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong hội nhập quốc tế. Tiếp tục đổi mới, phát triển, nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt coi trọng giáo dục truyền thống, lý tưởng, đạo đức, lối sống, ý thức trách nhiệm xã hội, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp. Bảo đảm kỷ cương trong dạy và học; phát huy vai trò gia đình phối hợp với nhà trường, xã hội để giáo dục thế hệ trẻ. Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch, xây dựng Khu đại học Tây Bắc, Đông Bắc; đẩy mạnh xã hội hóa gắn với đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hệ thống trường lớp theo quy hoạch và đầu tư trang thiết bị theo tiêu chuẩn quốc gia; mở rộng liên kết đào tạo, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nước ngoài. Nghiên cứu xây dựng cơ chế phối hợp quản lý để phát huy vai trò trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và hệ thống các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn. Tiếp tục duy trì kết quả chống mù chữ; phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi, giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và phổ cập bậc trung học; thực hiện phổ cập ngoại ngữ, tin học cho học sinh phổ thông. Thực hiện có hiệu quả chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học – công nghệ, doanh nhân và lao động kỹ thuật; đầu tư xây dựng và trang bị đúng mức để phát triển hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, gắn nội dung đào tạo của trường chuyên nghiệp với doanh nghiệp, bảo đảm sự cân đối giữa đào tạo và sử dụng, nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo, đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao của các ngành, lĩnh vực trọng yếu và đào tạo nghề cho nhân dân các vùng đô thị hóa và nhu cầu chuyển đổi ngành nghề địa bàn nông thôn. Hoàn chỉnh quy hoạch, có cơ chế phù hợp để nâng cao hiệu quả thực hiện chủ trương xã hội hóa lĩnh vực giáo dục – đào tạo theo hướng: huy động các nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục – đào tạo; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng đối với các cơ sở giáo dục – đào tạo; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

b. Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, tổ chức, hoạt động khoa học – công nghệ theo thẩm quyền, gắn kết giữa các cơ sở nghiên cứu, đào tạo và sản xuất – kinh doanh. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn làm cơ sở xây dựng các chính sách phát triển, quản lý đô thị, xây dựng văn hóa và giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội. Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Nâng cao trình độ khoa học – công nghệ và năng lực sáng tạo nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và kinh tế thành phố. Đổi mới công nghệ và phát triển công nghiệp công nghệ cao trong các doanh nghiệp, lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hoạt động khoa học – công nghệ. Thực hiện đồng bộ 3 nhiệm vụ chủ yếu để phát triển khoa học – công nghệ: nâng cao trình độ nghiên cứu và năng lực sáng tạo khoa học – công nghệ; đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý; đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ cao. Tăng đầu tư ngân sách hàng năm để phát triển khoa học – công nghệ; tập trung đầu tư đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng những trung tâm khoa học công nghệ tiêu biểu. Hình thành và khai thác có hiệu quả các quỹ phát triển khoa học – công nghệ, Vườn ươm doanh nghiệp khoa học – công nghệ để thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, vật liệu mới, công nghệ sinh học và tự động hóa; chủ động tham gia các chương trình nghiên cứu quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Có chính sách bồi dưỡng, thu hút, sử dụng và trọng dụng các chuyên gia khoa học – công nghệ trong và ngoài nước; phát huy vai trò của Liên hiệp các hội Khoa học – Kỹ thuật, Liên hiệp các hội Văn học – Nghệ thuật thành phố trong việc nghiên cứu, tư vấn và phản biện, góp phần xây dựng các chủ trương, chính sách phát triển và quản lý văn hóa – xã hội.

c. Phát triển văn hóa theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và các giá trị tinh thần mang nét đặc trưng của nhân dân thành phố; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội, với trọng tâm là đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở” ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; đầu tư xây dựng Nhà hát giao hưởng – nhạc vũ kịch, Bảo tàng thành phố, Nhà thiếu nhi thành phố (cơ sở 2), nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế, công trình văn hóa; định hướng, hỗ trợ sáng tác và đưa ra công chúng các tác phẩm văn học – nghệ thuật tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu phẩm chất nhân văn, thể hiện chân thật, sâu sắc lịch sử dân tộc, công cuộc đổi mới đất nước; xây dựng và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ đáp ứng yêu cầu phát triển, nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân, từng bước giảm dần sự cách biệt về mức hưởng thụ văn hóa giữa đô thị và nông thôn.

Tiếp tục hoàn thiện quy hoạch báo chí, xuất bản; nâng cao chất lượng công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục định hướng dư luận xã hội theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, khắc phục xu hướng thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích trong hoạt động báo chí, xuất bản; tập trung đào tạo, xây dựng đội ngũ quản lý báo chí, phóng viên, biên tập viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực, nghiệp vụ giỏi. Tăng cường quản lý, đấu tranh có hiệu quả các hoạt động lợi dụng mạng Internet truyền bá tư tưởng phản động, lối sống thực dụng, bạo lực trái đạo lý; bồi dưỡng, nâng cao sức đề kháng của công chúng, nhất là thế hệ trẻ đối với các sản phẩm phi văn hóa.

Đẩy mạnh phát triển ngành y tế, các chương trình quốc gia về chăm sóc sức khỏe, các chương trình y tế chuyên sâu, y tế dự phòng; ngành dược và đông y, y tế học đường; nâng cao năng lực phát hiện và khống chế dịch bệnh nguy hiểm, tăng cường các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm. Tiếp tục củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, đẩy mạnh xã hội hóa, mở rộng diện bảo hiểm y tế để chăm lo sức khỏe nhân dân, đặc biệt đối với người nghèo; tập trung xây dựng, phát triển Khu y tế kỹ thuật cao, các trung tâm y tế chuyên sâu và một số bệnh viện tại các cửa ngõ thành phố. Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đầu tư, hỗ trợ kinh phí, chuyển giao khoa học – công nghệ và kinh nghiệm quản lý của các nước, các tổ chức quốc tế để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Thực hiện nghiêm chính sách, pháp luật về dân số.

Tăng cường củng cố, kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý và các liên đoàn thể thao; tập trung hoàn thành việc xây dựng Khu liên hợp thể thao Rạch Chiếc để tổ chức đào tạo, thi đấu quốc tế ngang tầm với các nước trong khu vực; có chính sách thu hút đội ngũ huấn luyện viên giỏi, thu hút, phát hiện, đào tạo vận động viên có thành tích cao, triển vọng; chú trọng đầu tư phát triển thể thao học đường, thể thao quần chúng; đẩy mạnh phong trào luyện tập thể dục – thể thao thường xuyên trong cộng đồng để góp phần nâng cao thể chất của nhân dân. Có cơ chế tạo vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, nâng cao hiệu quả thực hiện chủ trương xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, y tế, thể thao; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước để huy động các nguồn lực chăm lo cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.

d. Giải quyết kịp thời các vấn đề xã hội bức xúc, nhất là lao động, việc làm, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng sống của nhân dân. Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi người có công và các đối tượng bảo trợ xã hội. Đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức thực hiện chương trình giảm hộ nghèo, nâng hộ khá theo hướng phát huy nội lực, kết hợp sự trợ giúp của cộng đồng; tăng khả năng tiếp cận của người nghèo đối với các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở,…), góp phần kéo giảm chênh lệch về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa nội thành và ngoại thành. Kiểm soát chặt chẽ, tiến tới ngăn chặn, đẩy lùi số người nghiện ma túy trên địa bàn, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các mô hình cai nghiện phục hồi gắn với dạy nghề, tạo việc làm để thực hiện tốt chương trình tái hòa nhập cộng đồng cho người sau cai nghiện. Có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế giải quyết việc làm cho người lao động; phát triển và quản lý tốt các trung tâm giới thiệu việc làm và hệ thống thông tin thị trường lao động, hình thành sàn giao dịch lao động; đa dạng hóa các mô hình đào tạo nghề. Mở rộng hợp tác quốc tế, nâng cao hiệu quả chương trình xuất khẩu lao động và chuyên gia.

4. Bảo đảm quốc phòng – an ninh, giữ vững ổn định chính trị, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại

Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống. Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các nghị quyết về nhiệm vụ quốc phòng – an ninh trong tình hình mới; chủ động đấu tranh đập tan mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bất ngờ; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng – an ninh, gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội với bảo đảm an ninh, quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh. Xây dựng lực lượng Quân đội, Công an, Biên phòng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, đảm bảo sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống. Tiếp tục kiện toàn tổ chức, đầu tư trang thiết bị hiện đại cho lực lượng Cảnh sát phòng cháy – chữa cháy, cứu hộ, cứu nạn. Thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc, giải quyết kịp thời, có hiệu quả các vấn đề liên quan đến an ninh – chính trị, tăng cường công tác quản lý đối với tổ chức và người nước ngoài trên địa bàn; đẩy mạnh chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, chương trình mục tiêu 3 giảm, chuyển hoá địa bàn, kéo giảm tội phạm và tệ nạn xã hội; mở rộng quan hệ hợp tác với các nước để trao đổi thông tin về an ninh chính trị, phòng chống tội phạm khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia.

Nâng cao hiệu quả thực hiện chiến lược cải cách tư pháp; tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, cán bộ, đầu tư cơ sở vật chất và chăm lo đời sống đội ngũ cán bộ các cơ quan tư pháp; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; khắc phục oan, sai, bỏ lọt tội phạm; xây dựng, củng cố các chế định bổ trợ tư pháp, đặc biệt là giám định tư pháp.

Tăng cường công tác đối ngoại đảng, đối ngoại nhà nước, đối ngoại nhân dân và đối ngoại kinh tế, văn hóa, xã hội; thực hiện tốt các nội dung hợp tác đã ký kết với địa phương các nước, nhất là các nước láng giềng và các đối tác quan trọng; mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế – văn hóa với một số địa phương các nước, chủ động ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động tiêu cực phát sinh trong quá trình hội nhập quốc tế. Đổi mới phương thức hoạt động tuyên truyền, thông tin đối ngoại nhằm quảng bá hình ảnh ViệtNamvà thành phố đối với bạn bè quốc tế và kiều bào ở nước ngoài.

5. Sáu chương trình đột phá

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, cần tiếp tục hoàn thành 5 chương trình, công trình mang tính đòn bẩy; đồng thời tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, huy động nguồn lực thực hiện 6 chương trình đột phá.

(1) Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xây dựng nhanh nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế; trong đó, tập trung nguồn nhân lực cho những ngành có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao, bảo đảm nhu cầu lao động chất lượng cao cho 9 ngành dịch vụ, 4 ngành công nghiệp trọng yếu và xuất khẩu lao động chất lượng cao.

(2) Chương trình cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị, xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; bộ máy quản lý nhà nước tinh gọn; đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển thành phố và hội nhập kinh tế quốc tế.

(3) Chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế thành phố tập trung nguồn lực, phát triển nhanh các ngành, sản phẩm công nghiệp, dịch vụ có hàm lượng khoa học – công nghệ cao, giá trị gia tăng cao; phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, đi đầu cả nước trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, có chất lượng, hiệu quả cao, bền vững.

(4) Chương trình giảm ùn tắc giao thông tập trung đầu tư xây dựng, từng bước hoàn chỉnh hệ thống giao thông, hình thành mạng lưới giao thông đồng bộ, kết nối Vùng thành phố Hồ Chí Minh; phát triển nhanh vận tải hành khách công cộng, ưu tiên giao thông công cộng sức chở lớn; nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; từng bước cải thiện tình trạng ùn tắc giao thông, giảm tai nạn giao thông.

(5) Chương trình giảm ngập nước tập trung giải quyết cơ bản tình trạng ngập nước tại khu vực trung tâm thành phố (khoảng 100 km2); kiểm soát, ngăn chặn không để phát sinh điểm ngập mới trên 5 vùng còn lại (khoảng 580 km2); giai đoạn 2016 – 2020, giải quyết cơ bản ngập nước do mưa tại 5 lưu vực ngoại vi và phần diện tích còn lại của thành phố.

(6) Chương trình giảm ô nhiễm môi trường tập trung kiểm soát, ngăn chặn và đẩy lùi ô nhiễm không khí, tiếng ồn, nước mặt, nước ngầm, chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại; khắc phục những nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng; tăng cường cây xanh, vườn hoa, thảm cỏ, tiểu đảo, công viên,… nhất là ở khu vực trung tâm; xây dựng thành phố xanh, sạch, có môi trường sống tốt; khôi phục các hệ sinh thái, phục hồi đa dạng sinh học, bảo vệ, phát triển Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ; nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng.

II. NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU TOÀN ĐẢNG BỘ; TĂNG CƯỜNG HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CỦA CHÍNH QUYỀN; PHÁT HUY DÂN CHỦ VÀ SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

1. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên

Tăng cường lãnh đạo thực hiện có hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng, tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong Đảng bộ và sự đồng thuận trong nhân dân; giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng niềm tin vững chắc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Đổi mới nội dung, phương thức công tác tư tưởng, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; kịp thời phát hiện, đấu tranh xử lý nghiêm minh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực tham mưu và tác nghiệp đạt hiệu quả cao. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra của cấp ủy đối với hoạt động của các cơ quan báo chí, bảo đảm định hướng tư tưởng chính trị trên tất cả các lĩnh vực. Toàn Đảng bộ và hệ thống chính trị làm công tác tư tưởng, nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục trên mặt trận tư tưởng – văn hóa của thành phố. Đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào chiều sâu, trở thành nền nếp sinh hoạt thường xuyên của chi bộ, tổ chức đảng, tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng trong Đảng bộ và nhân dân theo phương châm “tích cực học tập, nỗ lực làm theo”. Chú trọng xây dựng, phát hiện, nhân rộng các điển hình tiên tiến, phấn đấu ngày càng có thêm nhiều điển hình noi gương và nêu gương, nhất là trong cán bộ chủ chốt, người đứng đầu đơn vị, địa phương; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần xây dựng nền tảng văn hóa, đời sống tinh thần xã hội lành mạnh.

Đổi mới phương thức hoạt động của tổ chức đảng cấp trên cơ sở theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa X phù hợp với thực tiễn thành phố. Thực hiện tốt các chủ trương, giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; tập trung chỉ đạo củng cố các tổ chức đảng yếu kém, phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết, thống nhất trong cấp ủy và tổ chức đảng. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, tập trung nâng cao năng lực bí thư cấp ủy cơ sở; đẩy mạnh công tác xây dựng, củng cố tổ chức đảng, đoàn thể trong các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là các tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước. Tổ chức thực hiện tốt đề án xây dựng lực lượng chính trị trong các khu chế xuất, khu công nghiệp thành phố. Thực hiện tốt công tác phát triển đảng; gắn công tác kết nạp đảng với công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo, đánh giá, bố trí, luân chuyển cán bộ, chú trọng cán bộ nữ, cán bộ trẻ tuổi. Thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ. Có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý xuất thân từ công nhân gắn với chức danh và quy hoạch, thực hiện hiệu quả chương trình thạc sĩ, tiến sĩ, chủ động chuẩn bị lực lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý cho các nhiệm kỳ sau. Đẩy mạnh công tác luân chuyển cán bộ, mở rộng diện bố trí cán bộ chủ chốt không phải là người địa phương; thực hiện tốt chủ trương tạo nguồn cán bộ dài hạn, tăng cường cán bộ trẻ được đào tạo chính quy về công tác ở phường – xã, thị trấn, doanh nghiệp. Xây dựng và thực hiện tốt chính sách thu hút, sử dụng, trọng dụng nhân tài; kịp thời thay thế cán bộ yếu kém năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, uy tín giảm sút. Rà soát, bổ sung quy chế quản lý cán bộ, công chức, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, thẩm quyền trong công tác quản lý cán bộ. Xây dựng cụ thể quy định về trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức đảng và người đứng đầu trong công tác đánh giá, bổ nhiệm và bố trí cán bộ trên cơ sở hiệu quả công tác và tín nhiệm của nhân dân.Tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan và năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức – cán bộ. Tăng cường công tác bảo vệ Đảng, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ và quản lý cán bộ, đảng viên.

Tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, việc phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức đảng, đảng viên ở các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, đặc biệt các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực (xây dựng, nhà đất, hải quan, thuế, dự án đầu tư, doanh nghiệp, các cơ quan bảo vệ pháp luật,…); kịp thời phát hiện và chủ động khắc phục sớm những thiếu sót, khuyết điểm, phòng ngừa sai phạm, xử lý nghiêm minh, kịp thời các sai phạm.

Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa X. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo chính quyền, mặt trận và các đoàn thể chính trị – xã hội. Cấp ủy đảng không bao biện, làm thay hoặc buông lỏng trong lãnh đạo, chỉ đạo. Tăng cường chế độ lãnh đạo tập thể đi đôi với phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cá nhân. Sơ kết rút kinh nghiệm chỉ đạo thực hiện điểm các đề án về tổ chức, cán bộ trong Đảng bộ và hệ thống chính trị. Cải cách thủ tục hành chính trong Đảng, khắc phục tình trạng thủ tục rườm rà trong công tác tổ chức, cán bộ, quản lý cán bộ, đảng viên.

2. Nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố, Hội đồng nhân dân thành phố, Hội đồng nhân dân xã và ủy ban nhân dân các cấp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy chính quyền

Phát huy vai trò Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố và Hội đồng nhân dân thành phố, hội đồng nhân dân xã; thực hiện tốt chức năng giám sát, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những hành vi vi phạm pháp luật. Nghiên cứu, kiến nghị Trung ương bổ sung nhiệm vụ, thẩm quyền và tăng thêm số lượng, cơ cấu đại biểu chuyên trách của Hội đồng nhân dân Thành phố trong điều kiện không tổ chức hội đồng nhân dân quận – huyện, phường và xây dựng mô hình chính quyền đô thị.

Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước theo hướng tinh gọn, chuẩn hóa các chức danh cán bộ quản lý từ thành phố đến cơ sở. Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; thường xuyên giám sát, thanh tra công vụ, kịp thời chấn chỉnh, xử lý các sai phạm của cán bộ, công chức. Đẩy mạnh cải cách hành chính, đồng bộ 4 lĩnh vực : thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ – công chức – viên chức và tài chính công theo hướng hiện đại hóa nền hành chính, tinh gọn, hiệu quả; lấy việc công khai minh bạch các quy định của Nhà nước và bố trí cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực theo yêu cầu công việc làm khâu đột phá trong cải cách hành chính. Trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành, bổ sung quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cơ quan tham mưu trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố; chế độ trách nhiệm của người đứng đầu và vai trò tập thể; giảm hội họp, tăng cường công tác kiểm tra và chỉ đạo cơ sở; mở rộng phân cấp cho chính quyền quận, huyện với yêu cầu và nội dung khác nhau giữa các quận trung tâm, các quận đang đô thị hóa và các huyện; từng bước hình thành mô hình chính quyền đô thị. Tiếp tục xã hội hóa các dịch vụ hành chính các lĩnh vực quản lý đô thị, nhà đất, xây dựng, thi hành án dân sự…; đồng thời tăng cường chức năng kiểm tra, giám sát của các cơ quan hành chính có liên quan. Nghiên cứu, kiến nghị Trung ương mở rộng phân cấp quản lý cho thành phố phù hợp với đặc thù của đô thị lớn; chủ động phối hợp với bộ, ngành Trung ương có liên quan hỗ trợ thành phố thực hiện có hiệu quả Kết luận số 15-KL/TW của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 và thí điểm mô hình chính quyền đô thị. Xây dựng đề án, kiến nghị Trung ương cho thực hiện điểm tổ chức sở theo ngành dọc đối với một số ngành mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật cao; trước mắt, thực hiện điểm ngành y tế và giáo dục.

Tập trung thực hiện quyết liệt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát phòng, chống, đẩy lùi quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, người đứng đầu; hoàn thiện cơ chế, chính sách trên một số lĩnh vực có khả năng nảy sinh tham nhũng.

3. Phát huy dân chủ và sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chăm lo xây dựng mặt trận và các đoàn thể vững mạnh

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị trong phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng, đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân xây dựng, bảo vệ thành phố và đất nước. Đề cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác vận động nhân dân, xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần thái độ phục vụ nhân dân, “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân” của công chức, viên chức. Tiếp tục rà soát, bổ sung, điều chỉnh, xây dựng cơ chế, chính sách có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của công dân; thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết kịp thời, thỏa đáng, đúng pháp luật các khiếu nại của nhân dân.

Tăng cường công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, chăm lo đời sống, tạo điều kiện kinh phí, phương tiện hoạt động của cán bộ làm công tác dân vận, mặt trận và các đoàn thể chính trị – xã hội; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể, khắc phục xu hướng “hành chính hóa” và bệnh thành tích, nâng cao tính chủ động, sáng tạo của mặt trận, đoàn thể các cấp, nhất là cơ sở. Nâng chất các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước. Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở; phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của mặt trận, các đoàn thể nhằm tăng sự đồng thuận trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân phát huy quyền dân chủ, đóng góp xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của thành phố.

Tăng cường xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, có giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ ngày càng cao, phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Nâng cao trình độ và vị thế chính trị của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn từ những thành tựu trong quá trình đô thị hóa. Xây dựng đội ngũ trí thức ngang tầm với trình độ của trí thức các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới; có chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ trí thức sáng tạo, phát huy tiềm năng đội ngũ trí thức trong nước và nước ngoài tham gia thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chăm lo xây dựng thế hệ trẻ giàu lòng yêu nước, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh; phát triển về thể chất, tri thức, kỹ năng, tác phong công nghiệp và khả năng lập nghiệp, có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Quan tâm nâng cao trình độ và đời sống vật chất, văn hóa của phụ nữ; thực hiện tốt mục tiêu bình đẳng giới; xây dựng người phụ nữ yêu nước, năng động, sáng tạo, trung hậu, đảm đang; đề cao vai trò người phụ nữ trong phong trào xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” của cựu chiến binh, vai trò của cán bộ hưu trí trong giáo dục truyền thống, lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ, tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, chăm lo cải thiện đời sống cho cựu chiến binh, cán bộ hưu trí. Đề cao vai trò của hội người cao tuổi, chăm sóc người cao tuổi sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc; đồng thời phát huy vai trò của người cao tuổi trong việc giáo dục con cháu. Động viên, khơi dậy tiềm năng, ý thức trách nhiệm của doanh nhân trong phát triển kinh tế – xã hội của thành phố. Chú trọng phát huy tiềm năng, thế mạnh của đồng bào các dân tộc; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc, quan tâm nâng cao trình độ dân trí, cải thiện đời sống đồng bào các dân tộc. Động viên đồng bào có đạo sống tốt đời, đẹp đạo, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo và đồng bào có đạo sinh hoạt theo đúng quy định pháp luật. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, động viên kiều bào hướng về Tổ quốc, tích cực tham gia xây dựng thành phố và đất nước.

*

* *

Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ IX nhận thức sâu sắc trách nhiệm đối với nhân dân thành phố và cả nước, với truyền thống yêu nước, cách mạng, đoàn kết, năng động, sáng tạo, Đảng bộ thành phố quyết tâm khắc phục yếu kém, khuyết điểm, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, phấn đấu hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ IX đề ra, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, xứng đáng với thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh – Thành phố Anh hùng.

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ


[1] Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII : tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 12% trở lên. Kết quả thực hiện 2 năm 2006 – 2007 tăng vượt chỉ tiêu (năm 2006 tăng 12,2%, năm 2007 tăng 12,6%), đến năm 2008 – 2009 do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nên tốc độ tăng chậm lại, năm 2008 tăng 10,7%, năm 2009 tăng 8,7%; từ giữa năm 2009 tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố đã bước đầu phục hồi và tăng nhanh dần, đến 6 tháng đầu năm 2010 tăng 11% và ước cả năm 2010 đạt 11,5%; bình quân 5 năm 2006 – 2010 tăng trên 11%.

[2] Tỉ trọng các ngành dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp trong GDP thành phố : năm 2005 là 50,6% – 48,2% – 1,2%; dự kiến năm 2010 là 54,0% – 44,8% – 1,2%.

[3] Năm 2005 : 53%; năm 2010 : 61%.

[4] Doanh thu bình quân 1ha đất nông nghiệp năm 2009 đạt 138,5 triệu đồng/năm, bằng 2,2 lần năm 2005.

[5] Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký 5 năm 2006 – 2010 gấp 5,2 lần 5 năm 2001 – 2005.

[6] Tổng vốn đầu tư xã hội 5 năm 2006 – 2010 của thành phố gấp 3 lần giai đoạn 2001 – 2005, tăng bình quân 24,6%/năm.

[7] Thu ngân sách nhà nước 5 năm 2006 – 2010 gấp 2,5 lần giai đoạn 2001 – 2005.

[8] Trong điều kiện kinh tế thế giới suy thoái, xuất khẩu trừ dầu thô tăng bình quân 15,7%/năm, vượt kế hoạch (15%/năm).

[9] Các tỷ trọng :

+ Tỷ trọng tổng sản phẩm nội địa (GPD) của thành phố so với cả nước năm 2000 là 17,2%, năm 2005 là 19,7% và ước năm 2010 là 21,1%.

+ Tỷ trọng thu ngân sách của thành phố so với tổng thu ngân sách quốc gia năm 2006 là 25,27%, ước năm 2010 là 31,45% và ước cả giai đoạn 2006 – 2010 là 31,96%; tỷ trọng huy động vào ngân sách so với GDP của thành phố ước năm 2010 là 39,18%.

+ Tỷ trọng huy động vốn đầu tư toàn xã hội của thành phố so với cả nước năm 2000 là 16,1%, năm 2006 là 16,8%, ước năm 2010 là 21,7%; trong đó, tỷ trọng vốn đầu tư từ ngân sách của thành phố so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2001 – 2005 là 15%, ước giai đoạn 2006 – 2010 là 12% (chứng minh việc sử dụng vốn ngân sách như là “vốn mồi” để huy động vốn đầu tư toàn xã hội ngày càng hiệu quả hơn).

+ Tỷ trọng doanh số ngành dịch vụ của thành phố so cả nước năm 2005 là 22,4%, năm 2009 là 24,3%, ước năm 2010 là 25%.

[10] Tốc độ giá trị gia tăng ngành công nghiệp tăng trên 10% (chỉ tiêu từ 12 – 13%) : do từ năm 2004 thành phố đã có chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và di dời doanh nghiệp sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm từ nội thành ra khu quy hoạch, đã di dời 1.360 trên tổng số 1.402 đơn vị sản xuất gây ô nhiễm (cả doanh nghiệp Trung ương và doanh nghiệp địa phương), đạt trên 95% đơn vị phải di dời, nên đã làm giảm tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp; từ cuối năm 2010, sau khi cơ bản hoàn thành việc di dời thì tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp thành phố nhanh hơn tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước và ước cả năm 2010 tăng trên 11,3%.

[11] Hàng năm có 75% tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh : thực hiện không đạt chỉ tiêu do tiêu chí mới có yêu cầu cao hơn (năm 2006 đạt 74,34%,năm 2007 đạt 73,64%, năm 2008 đạt 58,5%, năm 2009 đạt 64,9%).

—————

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: