Trang chủ

Báo cáo chính trị

BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

TRÌNH ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ KHỐI CƠ SỞ BỘ XÂY DỰNG

LẦN THỨ VIII, NHIỆM KỲ 2010 – 2015

——

Tình hình thế giới 2005-2010 có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu năm 2008-2009. Kinh tế thế giới suy thoái nặng nề nhất kể từ sau cuộc đại khủng hoảng năm 1930 đến nay.

Bằng tất cả những cố gắng có thể có được và sự phối hợp có hiệu quả của các nền kinh tế, kinh tế thế giới đã có dấu hiệu phục hồi ở những tháng cuối năm 2009, đầu năm 2010. Trong đó, nền kinh tế các nước Châu Á có sự hồi phục nhanh và từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng.

Thực hiện công cuộc đổi mới và 05 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng, nền kinh tế nước ta trong nhiều năm liên tục đạt mức tăng trưởng cao. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, lợi nhuận của doanh nghiệp và việc làm, thu nhập của người lao động bị sụt giảm… nhưng đất nước vẫn giữ vững ổn định về chính trị – an ninh quốc phòng, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế tiếp tục phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới.

Các đơn vị Ngành xây dựng nói chung và các đơn vị thuộc Khối Bộ Xây dựng nói riêng đã tiếp thu, quán triệt, vận dụng và thực hiện có hiệu quả những quan điểm, chủ trương của Đảng trong việc chuyển đổi mô hình quản lý, thích ứng với nền kinh tế thị trường, khắc phục khó khăn, đạt nhiều kết quả, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước.

Đại hội đại biểu Đảng bộ Khối cơ sở Bộ Xây dựng có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Khối lần thứ VII  (2005-2010); Đề ra phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu và các giải pháp cụ thể để thực hiện thành công nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng bộ giai đoạn 2010-2015; Thảo luận và tham gia góp ý các văn kiện báo cáo chính trị, sửa đổi Điều lệ Đảng trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; Tham gia vào Dự thảo báo cáo và bầu đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ IX.

A-  KIỂM ĐIỂM KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

NHIỆM KỲ VII  (2005- 2010)

——

I-  LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ.

1-  Những nội dung, mục tiêu nhiệm vụ được Đại hội Đảng bộ Khối lần thứ VII đề ra.

Nghị quyết đại hội Đảng bộ Khối lần thứ VII đề ra nhiệm vụ chính trị của các đơn vị trong Khối là: đạt mức tăng trưởng bình quân 15-17%/năm. Hoàn thành việc sắp xếp đổi mới các doanh nghiệp nhà nước… Tăng cường đầu tư để phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Phấn đấu tăng mức thu nhập bình quân 1,5 lần. Tích cực tham gia các công trình, dự án trên địa bàn Thành phố, góp phần xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại.

2-  Kết quả thực hiện.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội, toàn Đảng bộ đã khẩn trương, quyết liệt tổ chức thực hiện ngay từ những tháng đầu, năm đầu của nhiệm kỳ; vượt qua những khó khăn, thách thức của nền kinh tế thị trường và cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu; đạt và vượt các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra: SXKD tăng trưởng, nhiều công trình trọng điểm được khởi công và hoàn thành, nhiều dự án đầu tư được thực hiện; đời sống,việc làm và thu nhập của người lao động được cải thiện…

2.1-  Các đơn vị sản xuất kinh doanh.

* Vượt khó thành công, thực hiện tốt các chỉ tiêu kinh tế đề ra.

 Cấp ủy, lãnh đạo các đơn vị đã kịp thời quán triệt, vận dụng quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và những giải pháp của Chính phủ; bám sát sự chỉ đạo, định hướng của Bộ Xây dựng và Nghị quyết của Đảng bộ Khối; tiếp tục thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp và vượt qua khó khăn thách thức của cuộc khủng hoảng, thích ứng với cơ chế quản lý mới trong điều kiện năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Với quyết tâm cao, các đơn vị đã nỗ lực phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đề ra đạt mức tăng trưởng bình quân trên 15%/ năm, tích cực thực hiện công tác đầu tư phát triển và đổi mới công tác quản lý… Nhiều công trình lớn, có giá trị kinh tế, xã hội cao được các đơn vị triển khai thực hiện đúng tiến độ, chất lượng và an toàn. Thu nhập bình quân tăng hơn 1,5 lần so với năm 2005. Một số đơn vị đã nhanh chóng và chủ động trong việc chuyển hướng đầu tư, tạo được bước phát triển mới cho đơn vị trong những năm sắp tới.

Tổng Công ty Xây dựng số 1 (CC1) là đơn vị có đủ điều kiện nhận thầu các công trình lớn theo phương thức BT, EPC và đầu tư các dự án quan trọng các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, năng lượng, cơ sở hạ tầng theo phương thức BOO, BOT… đã chủ động mở rộng lĩnh vực hoạt động và tham gia thi công những công trình hạ tầng có ý nghĩa kinh tế chính trị xã hội lớn, thiết thực góp phần xây dựng thành phố Hồ Chí Minh như: Công trình vệ sinh môi trường, thoát nước Nhiêu Lộc – Thị nghè, Công trình cầu Thủ Thiêm (1.450 tỷ đồng), cầu Đồng Nai mới (hơn 1877 tỷ đồng), Khu dân cư Hạnh Phúc 43 ha, Hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Thủ Thiêm và Nhà máy Thủy điện Đakr’Tih (công suất 144MW, giá trị đầu tư hơn 4378 tỷ đồng)…Tổng doanh thu năm 2009 gần 8.000 tỷ đồng, đạt mức tăng trưởng bình quân 25%.

Tổng Công ty Vật liệu xây dựng số 1 (FICO) là doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng. Các sản phẩm của các đơn vị thuộc FICO luôn giữ được vị trí trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Tổng Công ty đã tập trung nguồn lực đầu tư Nhà máy Xi măng Fico Tây Ninh (1,5 triệu tấn/năm, giá trị đầu tư hơn 3.200 tỷ đồng) và đầu tư vào các dự án kinh doanh bất động sản, công nghệ xử lý nền đất yếu… Doanh thu năm 2009 đạt hơn 4.000 tỷ đồng, có mức tăng trưởng bình quân gần 15%. Thu nhập tăng hơn 05 lần so với năm 2005.

Tổng Công ty Đầu tư Phát triển Đô thị & KCN Việt Nam (IDICO) là một trong những nhà đầu tư hàng đầu trong lĩnh vực đầu tư phát triển khu công nghiệp (17 khu công nghiệp trên cả nước với diện tích hơn 10.000 ha, tổng mức đầu tư trên 10.000 tỷ đồng), các công trình đầu tư phát triển năng lượng (Nhà máy Thủy điện Srokphumien công suất 54 MW, giá trị đầu tư hơn 1.300 tỷ đồng đã đi vào hoạt động và hòa lưới điện quốc gia; đang đầu tư, thi công Nhà máy Thủy điện ĐakMi 4 công suất 220 MW, giá trị đầu tư hơn 5.600 tỷ đồng, công trình mở rộng Quốc lộ 51, đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu và các khu đô thị… Tổng doanh thu 2009 đạt hơn 5.000 tỷ đồng, có mức tăng trưởng bình quân hơn 2 lần.

– Công ty Cp Miền Đông, Công ty Cp Licogi 16 là nhà đầu tư và là nhà thầu các công trình thủy điện lớn như: Thủy điện Buôn Tua Srah, Thủy điện Buôn Kuop, Srepok 3, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, Thủy điện A Vương, Thủy điện Bản Chát… và các dự án khu đô thị, các chung cư cao tầng; có mức tăng trưởng bình quân hơn 20%/năm.

– Công ty Cp Lilama 18, Công ty Cp Lilima 45-1 là các đơn vị chuyên ngành lắp máy các công trình công nghiệp, điện năng lớn của quốc gia như: Cụm Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ, Nhà máy nhiệt điện Cà Mau, Khu công nghiệp Lọc Hóa dầu Dung Quất, Xi măng Bình Phước…(Công ty Cp Lilama 18 có mức tăng trưởng bình quân hơn 50%).

– Công ty Cp Xây dựng số 5, Công ty Cp Chương Dương, Cty Cp KTXD & VLXD (Cotec Group), Công ty Cp Đầu tư & Xây dựng số 8, Công ty Cp Xây dựng Cotec (Coteccons)… là các nhà đầu tư và nhà thầu chuyên nghiệp khẳng định được thương hiệu trên thị trường đầu tư, xây dựng các chung cư, cao ốc, khu đô thị trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh và các địa phương trên cả nước; đạt mức tăng trưởng bình quân cao (Cty Cp XD số 5 đạt doanh thu năm 2009 hơn 1.000 tỷ đồng và tăng trưởng bình quân gần 50%). Công ty Cp Xây dựng 14  doanh thu năm 2009 tăng hơn 2 lần so với năm 2006. Một số đơn vị có sự vươn lên khắc phục khó khăn, tạo được sự phát triển đáng khích lệ như: Cty Cp Đầu tư & Xây dựng An Thịnh; Cty CP Phát triển & Kinh doanh nhà Cửu Long…

– Công ty Cp Xây dựng & Kinh doanh Vật tư, Công ty Cp Xây dựng & Sản xuất Vật liệu xây dựng, Công ty Cp Đầu tư & Kinh doanh VLXD Fico, Công ty Cp Khoáng sản & Tư vấn Đầu tư Fico… phát huy được ưu thế và truyền thống trong lĩnh vực kinh doanh và sản xuất vật liệu xây dựng, có mức tăng trưởng hàng năm cao, đẩy mạnh đầu tư vào lĩnh vực khai thác mỏ, các dự án bất động sản…. Cty Cp Cơ khí Xây dựng Tân Định, Công ty Cp Bao bì và khoáng sản số 1, Cty Cp công nghiệp Sài gòn Secoin… khắc phục khó khăn, mở rộng ngành hàng, đa dạng hóa sản phẩm… tạo sức cạnh tranh cho sản phẩm.

– Công ty Cp Tư vấn Xây dựng Tổng hợp là đơn vị chuyên ngành tư vấn, thiết kế, giám sát lớn của Ngành xây dựng ở phíaNam. Với đội ngũ quản lý, chuyên môn cao, uy tín nhiều năm, luôn khẳng định được vị thế, uy tín trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế, giám sát các công trình lớn, yêu cầu cao về kỹ mỹ thuật; có mức tăng doanh thu, lợi nhuận và thu nhập cao. Các đơn vị khảo sát, kiểm định và tư vấn thiết kế xây dựng… tiếp tục giữ được thị phần, có mức tăng trưởng khá, lợi nhuận và thu nhập tăng.

Tuy nhiên, có một vài đơn vị do những khó khăn tồn đọng, chậm thích ứng và lúng túng trước sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, sản phẩm thiếu sức cạnh tranh, nguồn vốn và nhân lực thiếu hụt, năng lực quản lý bất cập… Do đó, hoạt động cầm chừng, hiệu quả thấp như Công ty Thi công cơ giới (không thể cổ phần hóa do mất cân đối về tài chính), Cty Cp Vitaly, Cty Cp Cơ khí Xây dựng Tân Định, Công ty Cp Sứ Thiên Thanh, Công ty Cp Đầu tư Miền Nam…

* Hoàn thành công tác sắp xếp, đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước.

Thực hiện chỉ đạo của Ban Cán sự Đảng và Lãnh đạo Bộ Xây dựng về việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà nước. Đảng bộ Khối đã tập trung chỉ đạo quyết liệt và liên tục, đến cuối năm 2007 đã hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước (Cổ phần hóa: 26 đơn vị; chuyển thành chi nhánh công ty TNHH NN 1TV: 01 đơn vị, chuyển 03 tổng công ty 90 sang hoạt động theo mô hình công ty Mẹ – công ty Con và từ ngày 01/7/2010 thành Công ty TNHH 1 thành viên.

Công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp đã thực hiện đúng yêu cầu, tiến độ của Chính phủ và lãnh đạo Bộ Xây dựng. Sau sắp xếp, nhiều đơn vị ổn định, có sự thích ứng nhanh với cơ chế quản lý mới và phát triển tốt. Hiệu quả và uy tín của đơn vị tăng lên, được thị trường chấp nhận; bộ máy quản lý và mối quan hệ nội tại trong đơn vị có nhiều thay đổi tích cực, hiệu quả SXKD ngày càng cao. Tài chính đơn vị lành mạnh (08 đơn vị đã tham gia giao dịch trên sàn chứng khoán). Chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên, vai trò và các hoạt động của hệ thống chính trị được tôn trọng và phát huy… Việc chuyển đổi mô hình quản lý đã thúc đẩy sự năng động, tự chủ và khả năng thích ứng với môi trường kinh doanh mới, tạo cơ sở cho các doanh nghiệp chủ động đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị và cải biến một cách cơ bản tác phong làm việc, lao động của đội ngũ cán bộ quản lý và lực lượng lao động. Quy mô SXKD tăng mạnh (doanh thu hàng năm hơn 20.000 tỷ đồng), ngành nghề đa dạng, tích tụ vốn tăng nhanh; nâng cao hiệu quả và chủ động hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.

Đảng bộ Khối đã rất chú trọng chỉ đạo việc thực hiện các chế độ chính sách cho người lao động trong quá trình sắp xếp, chuyển đổi quản lý: có 1.652 người dôi dư khi cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước(= 10% tổng số CBCNV), trong đó có 135 đảng viên (= 7% tổng số đảng viên toàn đảng bộ cuối năm 2007); thực hiện đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, an toàn lao động và chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, nhất là ở các công trình xa.

Các tổng công ty 90 sau khi chuyển đổi phương thức quản lý, đã nhanh chóng phát huy lợi thế thương hiệu của các doanh nghiệp lớn, chủ động trong SXKD, tự chủ trong cân đối tài chính và hiệu quả SXKD, thiết lập mối quan hệ bình đẳng thông qua các hợp đồng kinh tế. Tuy nhiên, vai trò của công ty Mẹ trong giai đoạn mới chuyển đổi chưa thực sự rõ nét đối với các công ty Con, công ty liên kết (do tiềm lực tài chính của công ty Mẹ chưa đủ sức hỗ trợ, chi phối, giúp các công ty Con trong hoạt động SXKD và phát huy thương hiệu công ty Mẹ trên thị trường).

Để đạt được kết quả trên, cấp ủy – lãnh đạo các đơn vị đã có sự thống nhất cao về nhận thức và lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị làm tốt các bước, quy trình theo hướng dẫn của cơ quan quản lý các cấp . Đảng bộ Khối đánh giá cao vai trò của các đồng chí đảng viên, cấp ủy Đảng, tổ chức đoàn thể và lãnh đạo các đơn vị đã thống nhất cao, tổ chức thực hiện tốt chủ trương của Đảng, Chính phủ và Ban Cán sự Đảng Bộ Xây dựng về sắp xếp, đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với người lao động; giữ được ổn định, tập thể đoàn kết thống nhất, đơn vị  tiếp tục phát triển.

* Tăng cường đầu tư phát triển, liên kết  và đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực để phát triển bền vững.

Mặc dù có nhiều khó khăn, các đơn vị trong Khối vẫn bám sát sự chỉ đạo của Ban Cán sự Đảng Bộ Xây dựng và Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ Khối về việc đẩy mạnh công tác đầu tư vào các dự án, công trình mà đơn vị có thế mạnh và gắn với các hoạt động truyền thống, lĩnh vực mũi nhọn của đơn vị, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng chú trọng các lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh và giá trị gia tăng cao; Tăng cường công tác liên kết, phối hợp giữa các đơn vị trong khối và các doanh nghiệp ngoài khối tạo sức cạnh tranh và hướng tới xây dựng lực lượng mạnh của Ngành ở phía Nam. Nhiều đơn vị có các quy chế cụ thể quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, quản trị doanh nghiệp, công nhân lao động lành nghề và tạo dựng mối quan hệ hài hòa giữa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của người lao động, thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách với Nhà nước và người lao động trong đơn vị; tích cực tham gia công tác xã hội.

Tổng hợp 05 năm (2006-2010) các doanh nghiệp trong Khối có tổng mức đầu tư hơn 20.000 tỷ đồng vào các dự án phát triển năng lượng, khu công nghiệp, vật liệu xây dựng, khu đô thị, cơ sở đào tạo và các lĩnh vực khác đã góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, việc làm, thu nhập, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm và quảng bá thương hiệu trên thị trường…

Cùng với đầu tư phát triển, nhu cầu tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng để có nguồn nhân lực chất lượng cao được các đơn vị đặc biệt quan tâm và thực hiện với nhiều biện pháp, cơ chế thích hợp, đáp ứng được yêu cầu phát triển của doanh nghiệp và tạo sức cạnh tranh cao trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, trình độ tay nghề của lực lượng lao động, đội ngũ cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp cần được đặc biệt quan tâm chỉ đạo quyết liệt với những  biện pháp cụ thể mới đáp ứng được yêu cầu của ngành và đòi hỏi của xã hội; vẫn còn một tỷ lệ công nhân trong các doanh nghiệp chưa được đào tạo, đào tạo lại và huấn luyện kỹ năng lao động, kỹ thuật và an toàn lao động như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Khối đề ra.

Công tác liên kết, hợp tác cùng phát triển giữa các đơn vị trong Khối và với các đối tác bên ngoài đạt một số kết quả, tạo tiền đề cho sự liên kết nhiều chiều, sâu hơn và hiệu quả hơn trong hoạt động của mỗi đơn vị và hướng tới sự hình thành một tập đoàn mạnh của Ngành ở phía Nam. Đặc biệt là các hoạt động liên kết của một số đơn vị với các đối tác nước ngoài trong việc tranh thủ công nghệ, thiết bị tiên tiến để mở rộng ngành nghề, sản phẩm có sức cạnh tranh cao như: Công nghệ xử lý nền đất yếu của Tổng Cty Fico; Thiết bị và công nghệ đúc hẫng, coffa trượt trong thi công cầu của Tổng Cty Xây dựng số 1, Công nghệ sản xuất cọc ván beton dự ứng lực của Cty CP Xây dựng & Kinh doanh vật tư…

2.2- Các đơn vị sự nghiệp :

 Với tinh thần không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các đơn vị đào tạo đã chú trọng đổi mới nội dung, phương pháp, trang thiết bị dạy và học. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, làm tốt công tác quản lý, giáo dục sinh viên và chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên trình độ cao; mở rộng lĩnh vực, quy mô đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, thực hiện tốt các yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hàng năm cung ứng cho các doanh nghiệp trong ngành và xã hội một lực lượng lao động được đào tạo, có kiến thức chuyên ngành và khả năng làm việc tốt, được các doanh nghiệp tiếp nhận, sử dụng và đánh giá cao.

– Trường Đại học Kiến Trúc Tp HCM có số lượng sinh viên, học viên các hệ đào tạo hàng năm hơn 8.000 người, với hàng chục ngành học. Là một trong các trường đào tạo chuyên ngành các lĩnh vực: Kiến trúc, Xây dựng, Mỹ thuật công nghiệp… có chất lượng cao của khu vực phía Nam và cả nước; đã tập trung lãnh đạo việc xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và mở rộng địa bàn (Đắc Lắc, Phú Yên, Cần Thơ, Lâm Đồng…), lĩnh vực đào tạo (quản lý đô thị, thiết kế  nội- ngoại thất, thiết kế đô thị…). Triển khai xây dựng phân hiệu tại thành phố Cần thơ để tuyển sinh năm 2010; phân hiệu tại Đà lạt để tuyển sinh năm 2011; xây dựng cơ sở đào tạo tại quận Thủ Đức, Tp HCM với tổng diện tích sàn xây dựng trên 12.000m², xúc tiến mở phân hiệu đào tạo tại Cămpuchia và chuẩn bị thực hiện dự án xây dựng cơ sở mới với quy mô gần 40 ha tại quận 9, Tp HCM. Ban giám hiệu nhà trường đã và đang xây dựng chương trình học phần, tín chỉ tiên tiến để nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của ngành và xã hội.

– Trường cao đẳng Xây dựng 2 đào tạo bậc cao đẳng, trung cấp và công nhân kỹ thuật xây dựng được các doanh nghiệp trong ngành tiếp nhận sử dụng đánh giá tốt về chất lượng đạo tạo và khả năng thực hành; bổ sung đội ngũ giảng viên có trình độ đáp ứng theo quy định chuẩn của Ngành Giáo dục và Đào tạo; tăng cường công tác đầu tư cơ sở trường, lớp, ký túc xá và xưởng thực hành, có lượng sinh viên, học sinh hàng năm hơn 3.000 người và liên kết đào tạo với nhiều trường, nhiều địa phương. Đã xây dựng quy trình đến năm 2013 trở thành trường đại học xây dựng chính quy.

Hoạt động của các cơ quan nghiên cứu, quản lý nhà nước, báo chí … luôn ý thức được trách nhiệm, ý nghĩa của công việc đối với sự phát triển của Ngành trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế… phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ được Bộ giao, góp phần tích cực vào thành tựu chung của Ngành.

–  Phân viện Quy hoạch Đô thị & Nông thôn Miền Nam trước yêu cầu rất lớn về quy hoạch vùng, địa phương… đã cố gắng phấn đấu để đáp ứng được  yêu cầu của lãnh đạo Bộ và các địa phương.

– Phân viện Kinh tế Xây dựng Miền Nam và Trung tâm Kiến trúc Miền nam với lực lượng cán bộ nhân viên mỏng, nhưng luôn phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ được giao, góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ của ngành trên địa bàn các tỉnh phía Nam.

– Cơ quan đại diện Bộ Xây dựng mới được thành lập với yêu cầu nhiệm vụ rất lớn, phạm vị rộng; đã khẩn trương xây dựng được bộ máy, quy chế làm việc và triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao.

– Báo xây dựng và tạp chí Xây dựng luôn đồng hành cùng các doanh nghiệp, đơn vị; tuyên truyền, giới thiệu kịp thời những chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ và sự chỉ đạo, quy định, hướng dẫn của Bộ. Phản ánh kịp thời các vấn đề liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp, các đơn vị, địa phương và người dân.

II- CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG.

1- Các mục tiêu, nhiệm vụ được Đại hội đại biểu Đảng bộ Khối lần thứ VII đề ra:

Nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt có năng lực quản lý chuyên môn giỏi, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo và quản lý công tác cán bộ. Bồi dưỡng phát triển 450 đảng viên, trong đó có 60% là đoàn viên ưu tú do Đoàn thanh niên giới thiệu. Trên 80% các tổ chức Công đoàn và Đoàn thanh niên vững mạnh. Phấn đấu xây dựng Đảng bộ Khối Trong sạch vững mạnh, không có cơ sở đảng yếu kém….

2- Kết quả thực hiện.

2.1- Công tác giáo dục chính trị và tình hình tư tưởng của Đảng viên, CBCNV.

Bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ khối lấn thứ VII có nhiều thuận lợi lớn, nhưng cũng có nhiều trở ngại, thách thức đối với các mặt công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác giáo dục chính trị tư tưởng nói riêng. Nhận thức chính trị và tư tưởng của đảng viên, cán bộ và người lao động chịu nhiều tác động của tình hình trong nước và trên thế giới.

 Đảng bộ Khối đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đầy đủ, nghiêm túc việc phổ biến, quán triệt và liên hệ vận dụng với thực tế để xây dựng thành chương trình hành động cụ thể của đơn vị; đảng viên, cán bộ và người lao động có  nhận thức đúng về những thuận lợi và khó khăn thách thức của việc tham gia vào WTO, thống nhất cao về ý nghĩa và yêu cầu cấp thiết của sự chuyển đổi cơ chế quản lý và những mục tiêu, nhiệm vụ 05 năm 2005- 2010; tạo được khí thế thi đua, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới, phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của toàn đảng bộ; giữ được ổn định chính trị, SXKD tiếp tục tăng trưởng.            

Công tác giáo dục chính trị được chú trọng và tiến hành thường xuyên, liên tục từ cấp khối đến các đảng bộ, chi bộ cơ sở và các tổ chức đoàn thể với nhiều hình thức đổi mới, đem lại kết quả tích cực. Đảng bộ khối rất chú trọng chỉ đạo việc phối hợp với các tổ chức đảng ở các địa phương  trong việc tổ chức học tập cho các đối tượng phát triển đảng, đảng viên mới theo quy định của Trung ương; phổ biến, học tập các Nghị quyết của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước, chương trình hành động của các tổ chức đoàn thể và thông tin thời sự… đến đảng viên, đoàn viên tại các công trình, đơn vị ở xa… đặc biệt là việc triển khai thực hiện cuộc vân động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được cấp ủy và đoàn thanh niên các cấp tổ chức nghiêm túc và đạt kết quả tốt.

Tình hình chính trị, tư tưởng của đảng viên, cán bộ và người lao động các đơn vị trong toàn Đảng bộ nhìn chung ổn định, tin tưởng vào công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo thực hiện, thi đua thực hiện nhiệm vụ; đoàn kết xây dựng đơn vị, tích cực tham gia xây dựng Đảng; Không phát sinh những biểu hiện tiêu cực, sai trái về nhận thức chính trị và tư tưởng. Tuy nhiên còn một vài đơn vị gặp khó khăn trong quá trình chuyển đổi, hiệu quả thấp, nội bộ mất đoàn kết… nên đảng viên, cán bộ và người lao động băn khoăn, lo lắng.

2.2- Công tác tổ chức – cán bộ và Bảo vệ chính trị nội bộ.

Tiếp tục thực hiện chủ trương sắp xếp, đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà nước đã có ảnh hưởng, tác động mạnh đến công tác tổ chức cán bộ và các mặt công tác xây dựng đảng:

–  Thành lập mới 05 TCCS đảng; chuyển đổi 04 TCCS đảng (03 đảng bộ chuyển thành Chi bộ, 01 Chi bộ nâng lên thành đảng bộ).

 – Chuyển giao 04 tổ chức cơ sở Đảng về các tổng công ty trực thuộc Khối doanh nghiệp Trung ương; 02 tổ chức cơ sở Đảng về tổ chức Đảng địa phương .

 – Bổ sung 28 cấp ủy viên cơ sở (trong đó có 15  bí thư, 10 phó bí thư), 06 ủy viên Ban Chấp hành đảng bộ Khối (trong đó có 01 UVTV), 03 UV UBKT Khối và 04 ủy viên UBKT cơ sở.

 – Nhận xét và đề nghị đề bạt, bổ nhiệm 02 Chủ tịch HĐQT, 03 tổng giám đốc, 06 UV HĐQT, 02 trưởng ban kiểm soát HĐQT, 02 kế toán trưởng các Tổng Công ty 90 và 01 hiệu trưởng và 02 hiệu phó của các trường đào tạo.

Công tác cán bộ nữ được cấp ủy, lãnh đạo các đơn vị quan tâm. Tỉ lệ nữ tham gia vào các cơ cấu lãnh đạo đều tăng so với nhiệm kỳ VI (đảng viên nữ: 18%, cấp ủy viên các cấp: 12%, cán bộ quản lý: 5% và cán bộ các đoàn thể: 8%). Tuy nhiên do đặc thù công việc của các đơn vị Xây dựng và Lắp máy nên lực lượng CNV nữ rất ít, do vậy tỉ lệ nữ là cán bộ quản lý, tham gia cấp ủy và các đoàn thể thấp so với yêu cầu chung.

Nhìn chung công tác tổ chức cán bộ cơ bản đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, bảo đảm các quy trình, thủ tục và tiêu chuẩn theo quy định… Nhưng cũng có một số trường hợp chưa có sự phối hợp, tham gia của cấp ủy Đảng, quy chế nội bộ chưa được tuân thủ đầy đủ. Công tác quy hoạch cán bộ được thực hiện từ nhiều năm, nhưng việc quy hoạch, tạo nguồn đào tạo, bồi dưỡng và quản lý, sử dụng chưa thực sự được cấp ủy, lãnh đạo một số đơn vị quan tâm và thực hiện nghiêm túc dẫn đến những khó khăn như ở công ty Thi công cơ giới, Công ty Cp Đầu tư Miền Nam (Đô thị Bình Minh) thuộc Tổng Công ty Xây dựng số 1; Công ty Cp Sứ Thiên thanh, Công ty Cp Vitaly thuộc Tổng Công ty Vật liệu Xây dựng số 1 …

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được Ban thường vụ Đảng ủy Khối  quan tâm chỉ đạo thực hiện trong tình hình có nhiều biến động về tổ chức cán bộ; với số lượng đảng viên đông, phát sinh các mối quan hệ do quá trình hội nhập quốc tế và số đảng viên mới được kết nạp rất lớn  nên khối lượng công tác bảo vệ chính trị nội bộ 05 năm qua tăng lên rất nhiều so với các khóa trước; đòi hỏi phải tập trung rà soát, xác minh, thẩm tra…làm cơ sở cho việc xem xét, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ (138 trường hợp) và kết nạp đảng viên (134 trường hợp). BCH Đảng bộ đã thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện để thực hiện tốt các yêu cầu của công tác BVCTNB trong tình hình mới, phục vụ kịp thời công tác nhân sự Cấp ủy, phát triển đảng và công tác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ quản lý…

2.3- Công tác quản lý đảng viên và  phát triển đảng viên.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng”; Chỉ thị 10 của Bộ Chính trị về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và Cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM”; công tác quản lý, rèn luyện đảng viên của các chi bộ trong Khối được chú trọng; chế độ sinh hoạt, nội dung và chất lượng sinh hoạt chi bộ nhìn chung được các cấp ủy chi bộ thực hiện khá tốt, nhiều chi bộ thực hiện nghiêm theo quy định của Điều lệ Đảng; ý thức tham gia xây dựng Đảng và tính trách nhiệm  của  đảng  viên, cán  bộ  được  thể  hiện trên các cương vị, vị trí công tác.

Song còn một số chi bộ bộ phận sinh hoạt chưa đều (chỉ đạt 7-10 kỳ sinh hoạt/năm), chưa có sự đổi mới và chuẩn bị tốt về nội dung sinh hoạt, về cách ra nghị quyết; nội dung sinh hoạt còn nặng bàn về công việc SXKD, chuyên môn…

Công tác kiểm điểm, phân tích đánh giá chất lượng đảng viên và tổ chức cơ sở đảng hàng năm được triển khai, tổ chức thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ theo đúng quy trình và hướng dẫn của cấp ủy cấp trên. Việc thực hiện Quy định 76 của Trung ương về việc đảng viên tham gia sinh hoạt với địa phương nơi cư trú được các chi bộ thực hiện nghiêm túc, đầy đủ gắn với việc kiểm điểm đảng viên hàng năm và công tác kết nạp đảng viên, chuyển đảng chính thức, chuyển sinh hoạt đảng. Kết quả phân tích đã phản ánh trung thực chất lượng đảng viên, tổ chức đảng và mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị tại cơ sở: hàng năm có trên 60% TCCS đảng đạt danh hiệu Trong sạch vững mạnh, hơn 80% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ (có 09 TCCS đảng đạt danh hiệu Trong sạch vững mạnh 05 năm liền và 05 TCCS đảng Trong sạch vững mạnh tiêu biểu 03 năm liền). Nhưng chất lượng tổ chức cơ sở đảng chưa đạt được mục tiêu của đại hội đảng bộ khối đề ra (năm 2009 có 01 đảng bộ  và 01 chi bộ cơ sở yếu kém);do đảng viên, cấp ủy cơ sở chưa theo kịp với quá trình chuyển đổi cơ chế quản lí và chưa có sự lãnh đạo, chỉ đạo củng cố kịp thời, kiên quyết của ban Thường vụ Đảng ủy khối.

Công tác bồi dưỡng, phát triển đảng viên: do làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng và các mặt công tác xây dựng đảng, triển khai tốt Chỉ thị 09 của Thành ủy Tp HCM về phát triển đảng viên trong giáo viên, sinh viên; phát huy được vai trò tích cực của cấp ủy các cấp và đội ngũ đảng viên, các tổ chức đoàn thể… nên đạt kết quả tốt, vượt chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ Khối đề ra ; toàn Đảng bộ đã kết nạp 697 đảng viên (kế hoạch đề ra 450) =154%. Trong đó có 97,5 % cơ sở đảng phát triển được đảng viên mới; tỉ lệ đảng viên mới được kết nạp ở các tổ chức đảng trong công ty cổ phần chiếm 54%, là công nhân trực tiếp sản xuất 9,5% và đảng viên được kết nạp trong các tổ chức đảng cơ sở đào tạo: giáo viên – sinh viên 10%. Tỉ lệ đảng viên mới được kết nạp là đoàn viên thanh niên đạt 49,75%.

Kết quả công tác phát triển đảng viên mới phản ánh kết quả các mặt công tác xây dựng đảng, kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và chất lượng đảng viên, vai trò của các cấp ủy đảng của toàn Đảng bộ. Tuy nhiên, tỷ lệ các chi bộ bộ phận, nhất là các chi bộ trực tiếp sản xuất không kết nạp được đảng viên mới còn khá lớn (gần 20%) và tỉ lệ đảng viên được kết nạp là đoàn viên thanh niên ưu tú chưa đạt mục tiêu đề ra của Đại hội Đảng bộ Khối.

2.4-  Công tác  kiểm tra giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng.

Đảng bộ Khối đã triển khai quán triệt kịp thời và nghiêm túc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và các quy định, hướng dẫn của UBKT Trung ương và UBKT Thành ủy Tp Hồ Chí Minh về thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng. Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác kiểm tra giám sát cho cả nhiệm kỳ, hàng năm, hàng quý và kiểm tra việc tổ chức thực hiện của cấp ủy và UBKT các cấp; kiểm tra chuyên đề về thi hành Điều lệ Đảng và kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị 10 của Bộ Chính trị về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong toàn Đảng bộ (100% tổ chức cơ sở đảng và trên 30% số chi bộ bộ phận).

Tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn cho cấp ủy và UBKT cơ sở (07 lớp với hơn 730 lượt cấp ủy viên và ủy viên UBKT các cấp tham gia). Cấp ủy, UBKT Đảng ủy Khối và các đơn vị đã sơ kết và bổ sung nhiệm vụ công tác kiểm tra giám sát tại hội nghị giữa nhiệm kỳ (có 08 tập thể và 08 cá nhân tiêu biểu được khen thưởng).

Mặc dù có nhiều khó khăn, nhưng các đơn vị trong Khối vẫn giữ được mức tăng trưởng cao, đời sống của người lao động được chăm lo, cải thiện và công tác động viên, giáo dục chính trị được quan tâm… nên số lượng đơn thư rất ít (6 trường hợp) và đều được cấp ủy, lãnh đạo các đơn vị tiếp nhận, xử lý thỏa đáng, kịp thời. Công tác xử lý kỷ luật Đảng được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định của Đảng (kỷ luật 08 đảng viên: khiển trách 01, cảnh cáo 06, khai trừ 01) và xóa tên 33 trường hợp, không có đơn thư khiếu nại về nội dung và hình thức kỷ luật.

Kết quả của công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng đã hỗ trợ tích cực cho các mặt công tác xây dựng Đảng của cơ sở và góp phần hạn chế những sai phạm của đảng viên và tổ chức Đảng; được UBKT Thành ủy Tp Hồ Chí Minh đánh giá tốt và góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng bộ.

Tuy nhiên, nội dung kiểm tra đảng viên (kể cả cấp ủy viên cùng cấp) khi có dấu hiệu vi phạm và giám sát đảng viên, tổ chức đảng còn  hạn chế; đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra ở cơ sở  hầu hết chưa được đào tạo, bồi dưỡng  về chuyên môn (100% kiêm nhiệm); trong khi lực lượng đảng viên đông, làm việc phân tán, rèn luyện trong môi trường có nhiều khó khăn, phức tạp…

2.5- Tổ chức quán triệt và thực hiện tốt Cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được Bộ Chính trị chính thức phát động và triển khai quán triệt, thực hiện từ năm 2007 nhằm tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Cuộc vận động được cụ thể hóa bằng các chủ đề với những nội dung, yêu cầu cho từng năm và gắn với việc kiểm điểm đánh giá phân tích chất lượng đảng viên, tổ chức đảng hàng năm.

Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của Cuộc vận động, Đảng bộ Khối đã quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, kịp thời và đầy đủ từng nội dung, chủ đề của Cuộc vận động. Ban chỉ đạo của Đảng bộ Khối đã tham mưu xây dựng chương trình hành động cụ thể của Đảng bộ Khối và hướng dẫn việc liên hệ vận dụng thực hiện cho đảng viên và các tổ chức cơ sở Đảng; tiến hành kiểm tra và sơ kết, đánh giá, biểu dương khen thưởng các cá nhân và tập thể tiêu biểu (sơ kết 03 năm có 09 tập thể và 11 cá nhân được khen thưởng, trong đó có 01 tập thể và 03 cá nhân được chọn đề nghị Thành phố xét khen thưởng).

 Qua hơn 03 năm thực hiện Cuộc vận động với 100% cơ sở Đảng và hơn 90% đảng viên được học tập, liên hệ kiểm điểm, xây dựng chương trình rèn luyện phấn đấu cụ thể; đã tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động, tinh thần phấn đấu, tính trách nhiệm và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên; góp phần đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, củng cố niềm tin trong quần chúng. Cuộc vận động đã có tác động sâu rộng trong đảng viên và các tổ chức quần chúng tại đơn vị, tạo được ý thức tự giác trong rèn luyện và tu dưỡng, thực hiện nhiệm vụ và liên hệ gắn bó với quần chúng của đảng viên, cán bộ.

 2.6-  Công tác lãnh đạo các tổ chức quần chúng.

Các tổ chức quần chúng trong các đơn vị thuộc Đảng bộ Khối đã có nhiều nỗ lực trong việc giáo dục, động viên đoàn viên, CBCNV học tập và thực hiện tốt các chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước và điều lệ của tổ chức; Thể hiện được vai trò chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của người lao động, đặc biệt trong quá trình sắp xếp, đổi mới và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà nước và trước những tác động của cuộc khoảng tài chính kinh tế toàn cầu; Tham gia tích cực công tác xây dựng Đảng, xây dựng đơn vị, xây dựng tác phong lao động mới và các hoạt động cộng đồng, công tác từ thiện… góp phần tích cực vào việc ổn định chính trị, trật tự an toàn và an sinh xã hội.

Tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, chi hội cựu chiến binh các đơn vị  có nhiều hoạt động, phong trào thi đua tốt, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đơn vị, tham gia đóng góp thiết thực vào các chương trình hoạt động mang tính xã hội tại đơn vị và trên địa bàn. Tuyên truyền, hướng dẫn để người lao động hiểu và đồng thuận cao với quan điểm, chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về sắp xếp, đổi mới và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp; động viên người lao động tự giác học tập nâng cao trình độ tay nghề, chuyên môn và kỷ luật, tác phong làm việc. Giáo dục, động viên đoàn viên, công chức, viên chức thực hiện tốt quan điểm, chủ trương xây dựng xã hội học tập, giao quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo, xã hội hóa giáo dục đào tạo của Đảng, Nhà nước và Ngành giáo dục; nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước và chủ động hội nhập quốc tế.

Tổ chức đoàn thanh niên các cấp tiếp tục phát huy được khả năng tập hợp và giáo dục chính trị, động viên năng lực cống hiến đóng góp của lực lượng lao động trẻ tại doanh nghiệp, đặc biệt là khả năng thích ứng với nền kinh tế thị trường, ứng dụng KHKT và hội nhập quốc tế; tích cực tham gia xây dựng Đảng và rèn luyện phấn đấu trở thành đảng viện, cán bộ chuyên môn, quản lý giỏi… Đây là một trong những thế mạnh và là nhiệm vụ vẻ vang, nhưng cũng rất nặng nề của các tổ chức đoàn và mỗi người lao động trẻ.

2.7- Công tác thi đua.

Công tác thi đua được cấp ủy, lãnh đạo và các tổ chức quần chúng các đơn vị quán triệt và thực hiện đạt nhiều kết quả. Qua thi đua, nhiều điển hình tiến tiến, tấm gương tiêu biểu được phát hiện, biểu dương khen thưởng, tạo được hiệu ứng tốt trong các tập thể lao động, đoàn viên, sinh viên. Các phong trào thi đua đã góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, giảm thiểu những tác động tiêu cực từ bên ngoài xã hội và đẩy lùi các biểu hiện tiêu cực trong đơn vị, vun đắp tình người, đoàn kết gắn bó xây dựng đơn vị…

Tổng kết phong trào thi đua 05 năm 2005-2010, toàn Đảng bộ khối có 01 cá nhân được tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới”, nhiều tập thể và cá nhân được Nhà nước, Chính phủ, Bộ Xây dựng và Thành phố trao tăng các danh hiệu thi đua, trong đó có 01 Huân chương Hồ Chí Minh, 03 Huân chương độc lập, 16 Huân chương lao động, cờ thi đua và bằng khen của Chính phủ, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, của Ngành và Thành phố. Những tập thể và cá nhân điển hình trong phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị được bình chọn là những tấm gương tiêu biểu cho tinh thần phấn đấu, thi đua của hàng chục ngàn cán bộ, công nhân lao động, trong đó có gần 2.000 đảng viên của toàn Đảng bộ.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi của cơ chế quản lý và những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới có ảnh hưởng đến hoạt động và vai trò của các đoàn thể và công tác thi đua. Những hoạt động, phong trào thi đua về nghiên cứu, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, sức cạnh tranh của sản phẩm, quảng bá thương hiệu… chưa được chú trọng đúng mức.

2.8-Công tác an ninh quốc phòng.

Đảng bộ khối đã quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc chỉ thị của Bộ chính trị và các Nghị quyết của Trung ương về công tác an ninh quốc phòng trong tình hình mới, đã cử các đồng chí UVTV Đảng ủy Khối và các đồng chí là tổng giám đốc các tổng công ty 90 tham dự các lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng theo quy định. Thường xuyên chỉ đạo, nhắc nhở và kiểm tra việc phối hợp với địa phương để tổ chức thực hiện công tác bảo đảm an ninh trật tự và an toàn cơ quan, trường học, nơi ở của sinh viên và trên công trường thi công. Cấp ủy và lãnh đạo các đơn vị có ý thức tốt và chấp hành đầy đủ các quy định về quản lý và sử dụng các vật liệu nổ, công tác an toàn phòng chống cháy nổ. Phối hợp tốt với địa phương và các cơ quan chức năng bảo đảm an ninh, an toàn cho việc tổ chức thi công tại các công trình lớn như Khu công nghiệp lọc hóa dầu Dung Quất, các nhà máy thủy điện, xi măng… Một số cơ sở sản xuất công nghiệp lớn như Nhà máy Xi măng Hà tiên 1, Nhà máy Xi măng Fico Tây Ninh… đã thành lập và duy trì, phát huy tốt hoạt động của lực lượng tự vệ nhà máy, thường xuyên tham gia huấn luyện và thao diễn theo hướng dẫn của cơ quan quân sự địa phương, sẵn sàng tham gia phối hợp với các lực lượng trên địa bàn để bảo đảm an ninh – an toàn nhà máy và địa phương.

2.9- Công tác Văn phòng Cấp ủy và quản lý hồ sơ đảng viên.

Công tác Văn phòng Cấp ủy được kiện toàn, bổ sung cán bộ chuyên viên trẻ, có trình độ; phục vụ tốt công tác chỉ đạo của Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ Khối; bảo đảm điều kiện hoạt động của cơ quan Văn phòng Đảng ủy Khối và Đoàn Thanh niên Khối. Phối hợp với các ban của Đảng ủy Khối tổ chức học tập quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; chủ trương chính sách của Nhà nước, của Ngành và Thành phố (trên 95% đảng viên và cán bộ chủ chốt của toàn Đảng bộ), tổ chức các lớp học tập nhận thức về Đảng cho 2278 người, bồi dưỡng lý luận chính trị cho 800 đảng viên mới và tập huấn nghiệp vụ cho 730 lượt cấp ủy viên, ủy viên UBKT; tham gia tích cực công tác tập huấn nghiệp vụ và phong trào thi đua của văn phòng cấp ủy các đơn vị Khối –  Ngành Trung ương; khai thác, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác của văn phòng Cấp ủy. Công tác lưu trữ văn thư và chế độ báo cáo được thực hiện đầy đủ, chặt chẽ và có nhiều tiến bộ, phục vụ tốt các yêu cầu của đảng viên, tổ chức đảng và cấp ủy.

Công tác quản lý hồ sơ đảng viên, kết nạp đảng viên mới, chuyển đảng chính thức; hướng dẫn thực hiện các nghiệp vụ công tác Đảng được thực hiện tốt, ứng dụng được sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và đáp ứng được yêu cầu của công tác nghiệp vụ, tạo thuận lợi cho việc tiếp nhận và giới thiệu chuyển sinh hoạt đảng cho 1.569 đảng viên đúng theo quy định; chuẩn bị hồ sơ, thủ tục xét kết nạp 697 đảng viên mới; có 710 đảng viên được nhận thẻ đảng viên; trao tặng huy hiệu Đảng cho 77 đảng viên.

III- ĐÁNH GIÁ CHUNG  VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

1-  Những kết quả đạt được.

Thực hiện nghị quyết của Đại hội Đảng bộ Khối nhiệm kỳ VII (2005- 2010) Cấp ủy, lãnh đạo các đơn vị đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị phấn đấu với quyết tâm cao; động viên phát huy được tinh thần thi đua phấn đấu của các tập thể  lao động đoàn kết thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.    

Các đơn vị sản xuất kinh doanh thực hiện tốt việc sắp xếp, đổi mới   doanh nghiệp Nhà nước; đơn vị giữ được sự ổn định và có mức tăng trưởng cao; nộp ngân sách Nhà nước và tham gia công tác xã hội ngày càng tăng.  Khả năng thích ứng với cơ chế mới và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp ngày càng tốt hơn. Cơ cấu đầu tư và năng lực quản trị doanh nghiệp, trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân viên được nâng lên.

Các đơn vị đào tạo có nhiều cố gắng vươn lên để khẳng định thương hiệu và vị thế của mình trong hệ thống giáo dục quốc dân; đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực cho sự phát triển của Ngành và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Vai trò của đảng viên, cán bộ chủ chốt, của tổ chức đảng và các đoàn thể quần chúng tại các đơn vị được phát huy. Các nội dung công tác xây dựng đảng được thực hiện tốt.

2- Hạn chế và nguyên nhân.

Kết quả đạt được chưa thực sự tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và vị thế của các đơn vị Ngành xây dựng trên địa bàn các tỉnh phíaNam, nhất là Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong vùng động lực kinh tế ĐôngNambộ. Năng lực cạnh tranh của các đơn vị, các sản phẩm trên thị trường trong nước chưa cao, khả năng xuất khẩu chưa nhiều. Trình độ nguồn nhân lực, năng lực tài chính của các doanh nghiệp nhìn chung chưa đủ mạnh để chủ động đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng lĩnh vực, ngành nghề, sản phẩm mới  một cách mạnh mẽ và tham gia vào các dự án, công trình có quy mô vốn lớn; chưa có sự liên kết, hợp lực để cạnh tranh với các nhà thầu và  tư vấn nước ngoài…

Năng lực, trình độ và sức chiến đấu của  một số đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới. Công tác quản lý đảng viên, chế độ và chất lượng sinh hoạt chi bộ còn hạn chế, yếu kém.

Nguyên nhân chủ yếu là lãnh đạo một số đơn vị chưa nhận thức đầy đủ  về vai trò lãnh đạo của Đảng, về quá trình hội nhập.Chưa thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng và công tác thi đua  tại đơn vị để động viên được các nguồn lực, tiềm năng, thế mạnh của đơn vị trong việc định hướng, xác định mục tiêu nhiệm vụ, tổ chức thực hiện và đầu tư phát triển.

3- Bài học kinh nghiệm.

3.1- Ban Chấp hành Đảng bộ Khối và cấp ủy các đơn vị luôn giữ được sự đoàn kết thống nhất cao trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị; bám sát các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Thành ủy Tp Hồ Chí Minh và Ban Cán sự Đảng Bộ Xây dựng; kịp thời hướng dẫn, hỗ trợ tạo điều kiện cho các đơn vị xây dựng và thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị. Giữ vững định hướng phát triển: tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường.

3.2- Phát hiện, ủng hộ và  phổ biến, nhân rộng những mô hình mới, cách làm mới có hiệu quả. Biểu dương những cán bộ, đảng viên tiêu biểu có những đóng góp xây dựng Đảng, xây dựng đơn vị. Kịp thời phát hiện và kiên quyết chấn chỉnh, khắc phục những biểu hiện sai phạm và củng cố kiện toàn các đơn vị yếu kém.

3.3- Thực hiện nhất quán quan điểm của Đảng về công tác cán bộ; làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và chọn lựa đề bạt, bổ nhiệm những cán bộ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn tốt, được quần chúng tín nhiệm; Phát huy được vai trò của đội ngũ đảng viên, nhất là đảng viên là cán bộ chủ chốt; xây dựng, vận hành tốt mối quan hệ phối hợp, hỗ trợ có hiệu quả giữa cơ quan quản lý và cấp ủy đảng tại đơn vị.Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng và xây dựng, phát huy vai trò các đoàn thể quần chúng. .

3.4- Thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt đảng và chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; gắn kết cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng với Cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tích cực bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn và nêu cao trách nhiệm của đội ngũ Cấp ủy, Bí thư cấp ủy các cấp.

3.5- Tăng cường công tác kiểm tra giám sát của Đảng, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng. Giữ vững nguyên tắc, kỷ cương, bảo đảm sự thống nhất cao trong Đảng.

B- PHƯƠNG HƯƠNG NHIỆM VỤ NHIỆM KỲ VIII (2010-2015)

——

Nền kinh thế giới có những dấu hiệu phục hồi, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các thể chế kinh tế quốc tế và hợp tác song phương vừa tạo cơ hội cho kinh tế nước ta hội nhập sâu hơn, rộng hơn để tranh thủ những ưu đãi, hỗ trợ về công nghệ, thị trường… đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, nâng cao năng lực và khả năng tích lũy của nền kinh tế; nhưng cũng đặt ra những thách thức, áp lực to lớn đối với nền kinh tế nói chung và với các doanh nghiệp nói riêng.

Năm 2010 đến năm 2015 có nhiều sự kiện chính trị lớn tác động, ảnh hưởng đến nhận thức, tâm tư tình cảm và quyết tâm của đảng viên và các tầng lớp nhân dân:

– Đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ XI sẽ xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng và đường lối đối ngoại của nước ta trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bổ sung cương lĩnh xây dựng đất nước và sửa đổi, bổ sung Điều lệ của Đảng…

– Hội nhập quốc tế sâu hơn, sự cạnh tranh thị trường gay gắt hơn; kèm theo những khó khăn về vốn, đầu ra của sản phẩm, trượt giá… trong những năm đầu kinh tế  hồi phục sau khủng hoảng.

– Việc bãi bỏ các ưu đãi thuế quan và các điều kiện khác đối với một số lớn hàng hóa vào Việt nam theo lộ trình thỏa thuận với tổ chức thương mại thế giới (WTO).

– Các Tổng Công ty 90 chuyển đổi hoạt động theo mô hình Công ty TNHH 1 thành viên, hoạt động theo luật doanh nghiệp từ ngày 01/7/2010 và tham gia thành lập tập đoàn kinh tế mạnh của Ngành ở phíaNam.

– Tổng kết Cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”và các ngày lễ lớn của dân tộc …

Những đặc điểm, tình hình trên đặt ra những yêu cầu rất lớn đối với sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp bộ đảng trong toàn Đảng bộ Khối cơ sở Bộ Xây dựng.

Thực hiện định hướng xây dựng đất nước và những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội 2010- 2015.Trong đó phát triển ngành xây dựng đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.Nâng cao năng lực công nghiệp xây lắp đáp ứng yêu cầu trong nước và đấu thầu quốc tế. Phát triển mạnh công nghiệp vật liệu xây dựng, nhất là vật liệu chất lượng cao.

Căn cứ những dự báo và mục tiêu nhiệm vụ của Ngành Xây Dựng và của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ IX.

Căn cứ chức năng nhiệm vụ và  tiềm năng của các đơn vị trong Khối.

Đại hội đại biểu đảng bộ Khối cơ sở Bộ Xây dựng lần thứ VIII thống nhất đề ra những nội dung, mục tiêu nhiệm vụ và một số giải pháp tổ chức thực hiện chủ yếu như sau:

I- LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ.

1- Những nhiệm vụ chủ yếu.

1.1- Các đơn vị SXKD.

– Quán triệt và vận dụng thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2010-2015. Thực hiện tốt các giải pháp của Chính phủ và chỉ đạo của Bộ xây dựng về kiềm chế lạm phát, phát triển nhanh và bền vững.

– Phấn đấu đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm từ 15% trở lên; có mức tăng lợi nhuận và thu nhập bình quân tương ứng.

– Giữ và phát huy được vị trí thương hiệu của đơn vị trong những lĩnh vực, ngành  truyền thống, mũi nhọn; Nâng cao hàm lượng khoa học công nghệ để các sản phẩm có giá trị gia tăng cao; Đẩy mạnh xuất khẩu và mở rộng thị trường; Đẩy mạnh đầu tư phát triển, chú trọng các dự án có hiệu quả cao, các sản phẩm mới, công nghệ cao và thân thiện môi trường.

– Nâng cao năng lực, trình độ quản trị doanh nghiệp theo hướng chuyên nghiệp, khoa học, hiện đại và xây dựng đội ngũ công nhân có trình độ chuyên môn cao, đoàn kết gắn bó xây dựng đơn vị.

– Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo chủ chốt có trình độ chuyên môn giỏi, năng lực quản lý và phẩm chất chính trị tốt để quản lý và phát huy tốt hiệu quả phần vốn của nhà nước, lãnh đạo đơn vị phát triển theo đúng chủ trương đường lối, chính sách và định hướng của nhà nước; bảo đảm hài hòa các lợi ích trong doanh nghiệp và thực hiện tốt vấn đề môi  trường và an sinh xã hội.                     

– Tăng cường liên kết, hợp tác cùng phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của từng đơn vị  và hướng đến việc hình thành tập đoàn kinh tế mạnh theo định hướng của Bộ xây dựng, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và hội nhập kinh tế thế giới.

– Tiếp tục đẩy mạnh đầu tư và tham gia thi công những dự án, công trình trọng điểm của Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương; tích cực tham gia công tác xã hội và bảo vệ môi trường.

1.2-  Các đơn vị sự nghiệp.

– Nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo; trình độ chuyên môn và chất lượng nghiên cứu, thực hiện các đề tài khoa học đáp ứng được yêu cầu của ngành và xã hội; Tiếp tục kiện toàn tổ chức, lãnh đạo động viên thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, xây dựng đơn vị vững mạnh.

– Đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, chuyên viên có trình độ chuyên môn giỏi, tâm huyết và có trách nhiệm cao với sự nghiệp, gắn bó xây dựng đơn vị; đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy.

– Đầu tư mở thêm ngành, bậc, quy mô đào tạo, địa bàn và đối tượng đào tạo; Đa dạng hóa các hình thức và phương thức đào tạo đáp ứng yêu cầu của xã hội; Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học; từng bước xây dựng chương trình đào tạo mới tiếp cận với phương thức đào tạo tiến tiến của thế giới.

– Tăng cường trao đổi kinh nghiệm, chuyên môn giữa các trường, các đơn vị nghiên cứu và các doanh nghiệp để hỗ trợ, đặt hàng đào tạo nguồn nhân lực và chuyển giao các giải pháp công nghệ, sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao…

2- Một số giải pháp chủ yếu.

– Các đơn vị cần tiếp tục phân tích, đánh giá thực trạng, năng lực và thế mạnh của đơn vị, đánh giá và dự báo sát yêu cầu của thị trường để rà soát điều chỉnh, bổ sung định hướng phát triển của đơn vị giai đoạn 2010-2015 và đến 2020.

– Điều chỉnh cơ cấu sản xuất trên cơ sở phát huy được thế mạnh của đơn vị, sức cạnh tranh của sản phẩm, lĩnh vực và phạm vi hoạt động của đơn vị; Đúc kết kinh nghiệm để tiếp tục tham gia tích cực các công trình, dự án theo hình thức EPC, BOO, BOT, …

– Đẩy mạnh công tác đầu tư phát triển, xem xét chọn lọc những dự án, công trình và lĩnh vực đầu tư phù hợp với năng lực của đơn vị và đạt hiệu quả  cao.

– Nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp SXKD và chất lượng đào tạo nghiên cứu của các trường, đơn vị sự nghiệp; xây dựng và phát huy tốt vai trò của bộ máy quản lý; thực hiện đúng các quy định của luật pháp.

– Tích cực bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo các cấp… Có kế hoạch, chỉ tiêu cụ thể hàng năm về công tác bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản trị doanh nghiệp, chất lượng nghiên cứu khoa học…

– Chủ động và tăng cường sự hợp tác, liên kết phát triển, hướng đến thành lập tập đoàn kinh tế mạnh.

II- CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG.

1-  Một số nhiệm vụ trọng tâm.

1.1- Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất cao trong nhận thức và hành động; thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đơn vị.

– Thực hiện thường xuyên công tác giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho đảng viên, CBCNV hiểu và thực hiện đúng các quan điểm, chủ trương đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; định hướng phát triển của đơn vị, tạo sự đồng thuận cao trong Đảng và trong đơn vị.

– Làm tốt công tác tuyên truyền, động viên thi đua chào mừng các ngày lễ lớn, đại hội thi đua toàn quốc và đại hội Đảng các cấp, tiến tới đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

– Thực hiện nghiêm túc Quy định 54 của Trung ương về chế độ học tập chính trị trong Đảng, bảo đảm tiêu chuẩn và trình độ chính trị của đội ngũ cấp ủy các cấp theo quy định của Trung ương.

 -Xây dựng và thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ, quy chế hoạt động của tổ chức Đảng và các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội trong hệ thống chính trị tại đơn vị.

– Tiếp tục lãnh đạo và tổ chức thực hiện tốt các nội dung, chủ đề Cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đưa việc kiểm điểm thực hiện Cuộc vận động vào nội dung sinh hoạt chi bộ thường kỳ, gắn với việc kiểm điểm phân tích chất lượng đảng viên, tổ chức cơ sở Đảng hàng năm và thực hiện Chỉ thị 10 của Bộ Chính trị về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; chú trọng việc xây dựng, nhân rộng các điển hình; tiến tới tổng kết Cuộc vận động vào năm 2011.

– Tổ chức học tập, quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Thành phố và Ban cán sự đảng Bộ Xây dựng cho 100% cơ sở Đảng và đảng viên (nhất là số đảng viên làm việc trên các công trình xa).

1.2- Làm tốt công tác quản lý, rèn luyện đảng viên; đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên; thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của tổ chức Đảng trong các loại hình tổ chức; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng tổ chức cơ sở đảng Trong sạch vững mạnh.

– Tiếp tục thực hiện và tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị 10 của Bộ Chính trị về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, các quy định, hướng dẫn về công tác quản lý đảng viên nơi làm việc và nơi cư trú.

– Thường xuyên giáo dục, nhắc nhở đảng viên tự giác rèn luyện, gương mẫu chấp hành các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chủ trương chính sách  của nhà nước; Tiếp tục thực hiện Quy định 115 về những điều đảng viên không được làm; luật phòng chống tham nhũng; luật cán bộ, công chức và quy định về chế độ trách nhiệm của người đứng đầu các tổ chức, cơ quan đơn vị…

– Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng kết nạp đảng viên, tiếp tục thực hiện tốt công tác phát triển Đảng trong giáo viên, sinh viên. Phấn đấu kết nạp trên 500 đảng viên mới, trên 80% chi bộ bộ phận và tổ chức cơ sở Đảng hàng năm có kết nạp đảng viên; trên 60% đảng viên được kết nạp trong độ tuổi Đoàn và do các cơ sở Đoàn thanh niên giới thiệu.  – Thực hiện nghiêm túc việc kiểm điểm, phân tích chất lương đảng viên và tổ chức cơ sở đảng hàng năm; Phấn đấu có trên 80% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ; trên 70% cơ sở Đảng đạt Trong sạch vững mạnh, không có cơ sở Đảng yếu kém.

1.3- Thực hiện tốt công tác tổ chức – cán bộ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

– Quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm, chỉ đạo về công tác tổ chức cán bộ của Đảng; Lãnh đạo bảo đảm thực hiện đúng và đầy đủ các quy định, quy trình về công tác cán bộ; Thực hiện tốt sự phối hợp giữa cấp ủy với các cơ quan quản lý và cấp ủy cấp trên trong việc xem xét đề bạt, bổ nhiệm và kỷ luật cán bộ; Chú trọng bồi dưỡng, đào tạo và đề bạt, sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ.

– Lãnh đaọ thực hiện việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức Đảng theo yêu cầu của công tác quản lý và nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ và các đơn vị trực thuộc.

– Thực hiện tốt các quy định, hướng dẫn về công tác Bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới, đáp ứng được yêu cầu về công tác phát triển đảng và công tác cán bộ.

–  Nâng cao năng lực, chất lượng công tác văn phòng Cấp ủy, công tác đảng vụ; quản lý hồ sơ đảng viên… phục vụ kịp thời yêu cầu chỉ đạo của cấp ủy.

1.4- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng.

– Quán triệt và thực hiện đầy đủ các quan điểm, quy định và hướng dẫn thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng. Nhận thức đúng về vị trí và yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng trong tình hình mới.

–  Tăng cường chỉ đạo và tạo điều kiện để UBKT các cấp thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ được cấp ủy giao.

– Thực hiện tốt công tác bồi dưỡng nghiệp vụ, phẩm chất chính trị và chăm lo động viên tinh thần, vật chất cho đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra các cấp.

1.5- Đẩy mạnh công tác thi đua, an ninh quốc phòng và phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị và tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng đơn vị.

– Quán triệt quan điểm của Đảng và những yêu cầu về công tác thi đua và công tác an ninh quốc phòng trong tình hình mới; đẩy mạnh phong trào thi đua trong từng đơn vị, lĩnh vực công tác và các đoàn thể, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng Đảng, xây dựng đơn vị và các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội tại đơn vị.

– Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các Nghị quyết Trung ương Khóa X của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

– Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng trong việc tuyên truyền, phổ biến các quan điểm chủ trương của Đảng, pháp luật và chính sách của Nhà nước và động viên thi đua thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng đơn vị, xây dựng đảng. Nhận thức đúng về vai trò của tổ chức Công đoàn các cấp trong mô hình quản lý mới, xây dựng đội ngũ cán bộ Công đoàn giỏi về nghiệp vụ, hiểu biết và nắm vững  luật pháp, chính sách liên quan đến lao động và các mối quan hệ trong lao động; là người  đại diện và bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của người lao động. Tạo điều kiện để các tổ chức Đoàn thanh niên phát huy vai trò xung kích của lực lượng lao động trẻ trong đơn vị, nhất là tiềm năng khoa học kỹ thuật, ngoại ngữ, tiếp thu và làm chủ thiết bị công nghệ mới, sáng kiến cải tiến nâng cao năng suất, chất lượng và xây dựng tác phong lao động mới. Có cơ chế cụ thể chăm lo bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn có trình độ chuyên môn giỏi, nhận thức chính trị tốt, có khả năng tập hợp và vận động thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và của tổ chức Đoàn, tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng đơn vị. Giới thiệu đoàn viên ưu tú cho các tổ chức Đảng bồi dưỡng, xem xét kết nạp vào Đảng và đề bạt bổ nhiệm vào các vị trí quản lý lãnh đạo của đơn vị, bổ sung cán bộ cho Đảng và các tổ chức đoàn thể.

– Phấn đấu trên 80% chủ tịch công đoàn, bí thư chi đoàn cơ sở  được bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ công tác công đoàn, công tác thanh niên. Trên 80% tổ chức công đoàn và đoàn cơ sở vững mạnh.

2- Giải pháp thực hiện:

– Đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp công tác giáo dục chính trị tư tưởng; nâng cao năng lực, trình độ chính trị, trách nhiệm của bí thư cấp ủy các cấp; tăng cường phân cấp trong việc triển khai quán triệt, học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng.

– Tăng cường hướng dẫn và kiểm tra đôn đốc việc xây dựng và thực hiện quy chế hoạt động của các tổ chức Đảng theo quy định và hướng dẫn của Trung ương, Thành ủy Tp Hồ Chí Minh trong các loại hình tổ chức cơ sở Đảng. Kiên quyết và kịp thời xử lý, chấn chỉnh các cơ sở Đảng yếu kém, những cán bộ  không đủ tiêu chuẩn, tín nhiệm thấp…

– Tích cực triển khai việc học tập chính trị theo Quy định 54 của Đảng về bồi dưỡng lý luận chính trị cho cấp ủy và cán bộ chủ chốt  đoàn thể các cấp. Thực hiện đúng các quy định của Trung ương về bồi dưỡng kiến thức quốc phòng đối với các chức danh chủ chốt.

– Tăng cường bồi dưỡng và cơ cấu, đề bạt bổ nhiệm, bố trí cán bộ trẻ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo và công tác Đảng, đoàn thể các cấp; chăm lo và tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ trẻ phát huy năng lực đóng góp tích cực vào sự phát triển của đơn vị.

– Bảo đảm đủ số lượng cán bộ chuyên trách các ban của Đảng ủy Khối, Đoàn thanh niên Khối và chủ tịch công đoàn các tổng công ty, công ty lớn.

– Tiếp tục phát huy hiệu quả mối quan hệ các ban của Đảng ủy Khối với cấp ủy các đơn vị và các ban Đảng của Thành ủy Tp HCM.

Đại hội đại biểu đảng bộ Khối cơ sở Bộ Xây dựng được tổ chức trong không khí thi đua của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hướng về đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng, chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long –  Hà nội. Đại hội nhận được sự tham gia tích cực, đầy trách nhiệm của đảng viên, đoàn viên các tổ chức đoàn thể và các tập thể lao động các đơn vị trong khối và sự quan tâm chỉ đạo của Thành ủy Tp Hồ Chí Minh, Ban cán sự đảng Bộ Xây dựng, sự hỗ trợ, hướng dẫn của các Ban đảng Thành ủy Tp Hồ Chí Minh.

Thành công của Đại hội thể hiện sự đoàn kết, thống nhất cao của toàn Đảng bộ; Đại hội tin tưởng các mục tiêu, nhiệm vụ được các đại biểu nhất trí biểu quyết sẽ được mỗi đảng viên, tổ chức cơ sở Đảng quán triệt, thống nhất, quyết tâm thực hiện và lãnh đạo đơn vị thực hiện thắng lợi; xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, dân giàu – nước mạnh, xã hội công bằng – dân chủ – văn minh.

 ———–

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: